Em Ba Sàm

Archive for Tháng Bảy 6th, 2011

160. NGUY CƠ XUNG ĐỘT TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA ÔXTRÂYLIA

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NGUY CƠ XUNG ĐỘT TRÊN BIỂN ĐÔNG

VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA ÔXTRÂYLIA

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 4/7/2011

TTXVN (Xítni 29/6)

Viện nghiên cứu chính sách quốc tế Lowy, có trụ sở tại Xítni (Ôxtrâylia), đã cảnh báo rằng những va chạm trên biển gần đây liên quan đến Trung Quốc có thể dẫn tới chiến tranh ở châu Á, đồng thời tiềm ẩn khả năng lôi kéo sự can dự của Mỹ và các cường quốc khác. Trong một báo cáo công bố ngày 28/6, hai tác giả Rory Medcalf và Raoul Heinrichs chỉ rõ cách hành xử mạo hiểm của quân đội Trung Quốc ở biển Hoa Nam (biển Đông) và biển Hoa Đông, cùng với nhu cầu năng lượng to lớn của nước này cũng như thái độ ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh, đã làm gia tăng nguy cơ nổ ra một cuộc xung đột vũ trang.

Đặc biệt, biển Đông đang trở thành một điểm nóng vì khu vực này có nhiều bên gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Đài Loan, Brunây và Malaixia, cùng tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc một  phần lãnh hải.

Bản báo cáo, có tựa đề “Khủng hoảng và niềm tin: Các cường quốc chính và vấn đề an ninh hàng hải ở châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”, dựa trên những tham vấn với các chuyên gia an ninh tại Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và Ấn Độ. Theo báo cáo của Viện Lowy, các tuyến đường biển ở châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đang ngày càng trở nên đông đúc hơn, cạnh tranh gay gắt hơn và rất dễ dẫn đến xung đột vũ trang. Không quân và hải quân của các nước đang được tăng cường giữa lúc cán cân sức nặng chiến lược kinh tế đang có sự thay đổi. Những xích mích giữa Trung Quốc với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ có khả năng tiếp tục dai dẳng và dữ dội hơn. Khi con số và nhịp độ của các vụ việc gia tăng, có thể một vụ việc sẽ leo thang thành đối đầu vũ trang, khủng hoảng ngoại giao hoặc thậm chí có thể là xung đột.

Ông Medcalf, chủ biên của báo cáo, cho rằng cần phải nhanh chóng cải thiện và sử dụng các kênh liên lạc trên thực tế giữa quân đội Trung Quốc và quân đội các bên có tranh chấp, đồng thời khẳng định tình hình căng thẳng hiện nay ở biển Đông có thể dịu bớt nhờ các cuộc đối thoại liên quan đến Trung Quốc, Mỹ và Việt Nam. Trả lời phỏng vấn Hãng truyền thông quốc gia Ôxtrâylia (ABC) ngày 28/6, ông Medcalf cho rằng những đối đầu đang diễn ra đều có chủ định từ phía Trung Quốc nhằm phát đi tín hiệu về đòi hỏi của nước này đối với các vùng biển ở biển Đông. Tuy nhiên, ông nói thêm rằng có một nguy cơ mà Trung Quốc đánh giá thấp, đó là bất kỳ biến cố nào cũng đều có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát và dẫn tới xung đột vũ trang.

Theo nhà phân tích Medcalf, Hải quân Trung Quốc ngày càng mạnh lên và đang “ngấp nghé” hạn chế khả năng tiếp cận của Mỹ đối với các khu vực gần bờ biển Trung Quốc, và thậm chí sớm muộn là các vùng biển quanh Đài Loan. Vấn đề lớn ở đây là ý đồ. Chưa có gì rõ ràng chứng tỏ Trung Quốc có ý đồ quyết liệt hay gây hấn mạnh mẽ nhưng dường như có một số thế lực tại Trung Quốc, kể cả Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA), đang đẩy ranh giới sự việc di xa thêm. Họ đang tiến hành những hành động khiêu khích liên quan đến tranh chấp lãnh hải hoặc có những hành động mà có thể đoán rằng sẽ gửi tín hiệu tới Nhật Bản, Mỹ, Đông Nam Á và các nước khác rằng quyền lợi của Trung Quốc không thể bị xem nhẹ. Cho nên đây là một tình thế rất đáng lo ngại.

Viện Lowy cảnh báo rằng nếu có một cuộc chiến tranh xảy ra thì nó sẽ lan rộng khắp khu vực Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương và Mỹ cùng các cường quốc khác sẽ nhanh chóng bị cuốn vào. Về khả năng Ôxtrâylia có thể phải can dự vào những căng thẳng đó, chuyên gia Medcalf cho rằng Ôxtrâylia rất quan tâm đến vấn đề này bởi tự do hàng hải ở biển Đông rất quan trọng với không chỉ lực lượng hải quân Ôxtrâylia mà còn với hoạt động xuất khẩu của nước này tới Bắc Á. Thêm nữa, Ôxtrâylia cũng là một đồng minh của Mỹ nên nếu Mỹ có xung đột với Trung Quốc về vấn đề biển Đông thì rất nhiều khả năng Ôxtrâylia cũng phải tham gia và đứng về phía Mỹ.

Người Ôxtrâylia lo ngại xung đột quân sự với Trung Quốc, nhưng sẵn sàng hậu thuẫn Mỹ

Một cuộc thăm dò dư luận cũng do Viện Lowy thực hiện mới đây cho thấy người dân Ôxtrâylia đang ngày càng lo ngại về sức mạnh quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và rất nhiều người tin rằng chiến tranh là điều không thể tránh khỏi trong vòng 20 năm tới. Giám đốc điều hành Viện Lowy Michael Wesley cho biết 44% số người được hỏi nói rằng có thể Trung Quốc sẽ trở thành một mối đe doạ quân sự đối với Ôxtrâylia, với 87% nêu lý do là vì Trung Quốc và Mỹ sẽ xung đột nên Ôxtrâylia sẽ bị lôi kéo vào.

Công chúng Ôxtrâylia còn đặc biệt tỏ ra quan ngại về việc người nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, đầu tư ồ ạt vào nước này. Sau khi công bố bản thăm dò dự luận, tiến sĩ Micheal Wesley cho hay người dân Ôxtrâylia có quan điểm mâu thuẫn trong vấn đề liên quan tới Trung Quốc. Một mặt, ba phần tư số người trả lời phỏng vấn cho biết nhìn chung, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc là điều có lợi cho Ôxtrâylia. Tuy nhiên, cũng có đến 65% người Ôxtrâylia tin rằng một khi lớn mạnh, không sớm thì muộn Trung Quốc sẽ tìm cách thống trị châu Á. Tiến sĩ Wesley cho hay trong năm 2011, 57% người Ôxtrâylia cho rằng Chính phủ Ôxtrâylia đã cho phép Trung Quốc đầu tư quá nhiều vào nước này. So với năm 2009, số lượng người Ôxtrâylia lo ngại về vấn đề này tăng tới 7%. Ông Wesley kết luận số người Ôxtrâylia quan ngại về Trung Quốc đang ngày cang đông đảo hơn.

Theo thăm dò của Viện Lowy, người Ôxtrâylia ngày càng bám chặt hơn vào liên minh với Mỹ, bất chấp việc cuộc chiến tranh ở Ápganixtan không được công chứng ủng hộ và niềm tin rằng Mỹ có thể lôi kéo Ôxtrâylia vào một cuộc xung đột mới ở châu Á. Hầu hết số người được hỏi ủng hộ việc đồn trú quân đội Mỹ ở Ôxtrâylia và sẽ ủng hội việc Ôxtrâylia đi theo Mỹ trong một cuộc chiến tranh toàn diện trên bán đảo Triều Tiên.

Cuộc thăm dò cũng cho thấy sự mâu thuẫn về những rủi ro và lợi ích của một nước Trung Quốc có uy lực, những lo ngại tiếp diễn về mối đe dạo về các vụ tấn công khủng bố, nhưng với một niềm tin vững chắc rằng bất chấp tất cả, sự bá chủ toàn cầu của phương Tây vẫn sẽ còn nguyên vẹn hoặc thậm chí còn được củng cố. Người Ôxtrâylia tin tưởng vào việc các cường quốc lớn sẽ “hành động có trách nhiệm”, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản, cũng như Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, mặc dù ở một mức độ quan trọng nhưng kém hơn. Cuộc thăm dò phản ánh sự tái đánh giá đang nổi lên nhanh chóng của Ôxtrâylia về tương lai chiến lược của nước này, cả trong lĩnh vực quân sự và kinh tế, cũng như lo ngại của Chính phủ Thủ tướng Julia Gillard nhằm cân bằng những phản ứng của nước này đối với những dịch chuyển có tiềm năng mâu thuẫn nhau trong cán cân quyền lực.

Ôxtrâylia tái bố trí lực lượng để đối phó với những mối đe doạ trong tương lai

Ôxtrâylia đã bắt đầu tiến trình xem xét lại các khả năng quân sự lần đầu tiên trong vòng 20 năm qua nhằm chuyển trọng tâm bố trí các tàu chiến, tàu ngầm, máy bay chiến đấy và binh sĩ sang khu vực phía Tây và phía Bắc của nước này nhằm đáp lại những thách thức đang nổi lên ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và vùng vành đai Ấn Độ Dương. Động thái này được Chính phủ của Thủ tướng Julia Gillard tuyên bố là để nghiên cứu cách thức tốt nhất bảo vệ các ngành công nghiệp khai khoáng trong vùng đó và chỉ dẫn về những vấn đề như liệu sức mạnh quân sự đang nổi lên của các nước châu Á-Thái Bình Dương có gây ra một mối đe doạ cho Ôxtrâylia hay không.

Theo nhận định của tờ “Người Ôxtrâylia” ngày 23/6, tiến trình “Xem xét tái bố trí lực lượng” do Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith công bố hôm 22/6 sẽ gắn chặt với việc xem xét lại cách thức bố trí lực lượng toàn cầu mà Mỹ đang tiến hành với trọng tâm nhằm vào sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Hai tiến trình xem xét lại này có thể sẽ dẫn tới việc gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực và việc Mỹ tăng cường sử dụng các căn cứ của Ôxtrâylia cho máy bay và tàu chiến. Kể từ sau Hội nghị các bộ trưởng ngoại giao – quốc phòng giữa Ôxtrâylia và Mỹ (Ausmin) tại Melbourne hồi năm ngoái, các nhóm của cả hai nước đã bắt đầu làm việc về chi tiết của những thoả thuận liên quan đến việc các lực lượng Mỹ sử dụng các cơ sở quân sự và hải cảng của Ôxtrâylia.

Các tài liệu do Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith công bố không đề cập gì tới Trung Quốc, nhưng nhóm thẩm định đã được chỉ thị nghiên cứu “sự gia tăng các khả năng sử dụng sức mạnh quân sự của những nước ở châu Á-Thái Bình Dương”. Theo giáo sư Paul Dibb, tác giả của tiến trình tương tự được tiến hanh 2 thập niên trước đây, điều đó là một sự đề cập rõ ràng tới Trung Quốc. Trong khi đó, Giám đốc Viện chính sách chiến lược Ôxtrâylia (ASPI) Peter Abigail cho rằng tiến trình xem xét lại lần này sẽ bổ sung cho phần không được đề cập tới trong Sách trắng Quốc phòng 2009.

Tiến trình xem xét lại bố trí lực lượng sẽ do hai cựu quốc vụ khanh quốc phòng Allan Hawke và Ric Smith chủ trì và là một sự đáp lại những lo ngại của ngành khai khoáng và các nhà chiến lược quốc phòng rằng nguồn chủ yếu mang lại sự giàu có cho Ôxtrâylia có thể bị nguy hiểm và không được bảo vệ đúng mức nếu tình hình an ninh khu vực trở nên xấu đi. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith, tiến trình này và Sách trắng Quốc phòng không nhằm vào bất cứ quốc gia cụ thể nào, nhưng sẽ chú trọng vào một loạt những nhân tố toàn cầu, khu vực cũng như chiến lược và an ninh quốc gia hiện tại và đang nổi lên. Ông Stephen Smith đã bác bỏ những gợi ý rằng việc xem xét lại này đang được tiến hành với một trọng tâm nhằm vào Trung Quốc, nói rằng Ôxtrâylia có một mối quan hệ kinh tế rất quan trọng với Trung Quốc, nhưng đó là một quan hệ song phương toàn diện và quan trọng bao gồm cả những vấn đề chiến lược và an ninh cũng như những trao đổi thường xuyên giữa các quan chức quân sự. Ông Stephen Smith nói: “Chúng tôi tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ nổi lên, như Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Bob Zoellick nói, là một thành viên có trách nhiệm trong một môi trường hoà hợp, như người Trung Quốc nói”.

Theo Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith, việc bảo vệ cơ sở hạ tầng năng lượng cũng như câu hỏi về an ninh năng lượng đang trở thành những vấn đề trong nước quan trọng đối với Ôxtrâylia, giữa lúc các hoạt động khai thác dầu khí trị giá hàng tỉ AUD ở ngoài khơi vùng Tây Bắc nước này tiếp tục phát triển. Ông Smith cho biết tiến trình thẩm định sẽ cân nhắc sự nổi lên của nhu cầu đối với an ninh năng lượng ở vùng Tây Bắc Ôxtrâylia, sự nổi lên của Vành đai Thái Bình Dương như là một khu vực có tầm quan trọng chiến lược và nhu cầu đối với Ôxtrâylia để có thể phản ứng trước các cuộc khủng hoảng nhân đạo trong khu vực.

Tiến trình thẩm định này sẽ dựa vào và chỉnh lý những kết luận của Sách trắng Quốc phòng 2009 và khi hoàn tất vào năm tới sẽ đưa ra một bối cảnh chiến lược cho Sách trắng Quốc phòng tiếp theo dự kiến được công bố vào năm 2014. Trong khi chưa có mối đe doạ nào hiện hữu ngay trước mắt vào lúc này, Ôxtrâylia sẽ cần phải mất nhiều năm để trang bị và đưa vào trực chiến các tàu hải quân mới (bao gồm tàu khu trục và các tàu đổ bộ lớn) và máy bay chiến đấu đa năng như JSF cũng như nâng cấp các căn cứ cho những khí tài quân sự này.

Hãng truyền thông quốc gia Ôxtrâylia (ABC) cho biết Ôxtrâylia hiện đang theo đuổi chương trình mua sắm vũ khí quy mô lớn, tập trung vào việc hiện đại hoá hải quân và không quân, nhằm tăng cường khả năng phòng thủ và tác chiến trên bàn cờ chiến lược mới tại châu Á. Đây là đợt mua sắm vũ khí lớn nhất của quân đội Ôxtrâylia kể từ Thế chiến II, theo đó, hạm đội tàu ngầm sẽ tăng gấp đôi lên 12 chiếc và nhóm tàu ngầm lớn Collins sẽ đàn được cho “nghỉ hưu”. Bên cạnh đó, Chính quyền Canbơrơ sẽ chi ra 10 tỷ AUD để mua hai tàu sân bay với tên gọi HMAS Adelaide và HMAS Canberra. Về không quân, Ôxtrâylia sẽ mua 100 máy bay chiến đấu đời mới loại F-35 JSF của Mỹ, cùng 8 máy bay thám thính đường trường. Ngoài ra, một số tên lửa đạn đạo với tầm bắn xa tới 2.400km cũng sẽ được Ôxtrâylia mua lần đầu tiên.

***

Việt Hà của đài RFA đã có cuộc phỏng vấn giáo sư Nick Bisley giảng dạy môn quan hệ quốc tế tại trường Đại học La Trope của Ôxtrâylia về tình hình căng thẳng ở Biển Đông và thái độ của Ôxtrâylia về vấn đề này. Giáo sư Bisley cũng là thành viên của Hội đồng an ninh và hợp tác châu Á Thái Bình Dương, và đã có mặt tại Đối thoại Shangri-La vừa qua ở Xinhgapo. Sau đây là nội dung chi tiết:

Cơ cấu kiềm chế xung đột

+ Xin ông cho biết những căng thẳng trên Biển Đông có ảnh hưởng thế noà đối với Ôxtrâylia?

–                           Quan điểm của Ôxtrâylia cũng giống như nhiều nước khác quan tâm đến các diễn biến trên Biển Đông. Mối quan ngại lớn nhất là những xung đột rõ ràng tại Biển Đông, nơi quyền lợi của các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc cùng một số nước khác tại Đông nam Á lại trùng hợp nhau. Những đụng độ xẩy ra thường xuyên xuất phát từ nguyên nhân lợi ích bị va chạm sẽ không chỉ là những đụng độ nhỏ trên biển mà có thể sẽ xảy ra các cuộc xung đột lớn hơn.

Quan điểm của Ôxtrâylia cũng như một số nước khác trong khu vực là cần tạo ra một cơ cấu để có thể kiểm soát và kiềm chế được các xung đột này, tránh để xung đột có thể leo thang thành xung đột lớn hơn. Nhưng vấn đề mà chúng tôi gặp phải, cũng đựơc thể hiện ở Shangri-La, là kể cả Trung Quốc và Mỹ đều không muốn đi theo hướng mà họ cho là có thể ràng buộc những hoạt động của họ trong một quá trình đa phương. Cho nên ASEAN, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Hàn Quốc đã nhiều lần đưa ra các đề nghị để nhiều bên kiểm soát và kiềm chế những xung đột trên biển, hay khi xẩy ra khủng hoảng, thậm chí đề nghị có một bộ quy tắc ứng xử. Tuy nhiên cả Trung Quốc lẫn Mỹ đều không muốn bị ràng buộc bởi cơ chế này. Ôxtrâylia cũng như nhiều nước khác cũng có quyền lợi gián tiếp liên quan đến những sự kiện tại Biển Đông nhưng không thể làm được gì nhiều bởi những ảnh hưởng mạnh từ Mỹ và Trung Quốc, mà họ thì không sẵn sáng thay đổi lập trường để phù hợp với một quá trình đa phương.

Ôxtrâylia nghiêng phía nào?

+ Ông có nghĩ đến một lúc nào đó Ôxtrâylia sẽ trực tiếp can thiệp vào những căng thẳng trên Biển Đông? Nếu có là trong trường hợp nào? Mức độ ra sao?

–                           Tôi nghĩ rất khó có khả năng Ôxtrâylia sẽ can thiệp vào những sự kiện đụng độ nhỏ trên Biển Đông, Ôxtrâylia không muốn tham gia về mặt quốc phòng vào các khu vực nhạy cảm như Biển Đông. Ôx trâylia sẽ rất miễn cưỡng trong chuyện này trừ khi có sự hậu thuẫn của Liên hợp quốc hay nhiều quốc gia.

Ngoại lệ duy nhất là khi xảy ra xung đột nghiêm trọng giữa Trung Quốc với Mỹ. Trong trường hợp đó, vị trí của Ôxtrâylia là rất khó khăn vì Ôxtrâylia là đồng minh của Mỹ, tôi cho là Ôxtrâylia tham gia vào bất cứ hành động can thiệp quân sự nào của Mỹ. Về mặt chính trị, cũng sẽ rất khó cho Ôxtrâylia để nói “không” với Mỹ. Tôi nói một ví dụ về Đài Loan, dù đây không phải là Biển Đông nhưng cũng gần đó, và đây là một bất đồng giữa Mỹ và Trung Quốc. Tôi nghĩ Ôxtrâylia sẽ rất khó khăn khi phải chọn lựa giữa một bên là đồng minh Mỹ và một bên là Trung Quốc – một nước nhập khẩu lớn, đối tác thương mại lớn của Ôxtrâylia là Trung Quốc. Có rất nhiều lý do mà Ôxtrâylia muốn tránh can thiệp nhưng cuối cùng nếu Mỹ cần thì Ôxtrâylia sẽ không thể không tham gia dù khó khăn, kể cả trong vấn đề Biển Đông.

Trung Quốc không đáp ứng

+ Vậy theo ông, Chính phủ Ôxtrâylia sẽ làm gì trong thời gian sắp tới và phải làm gì để thúc đẩy quá trình đưa đến việc tìm ra một giải pháp cho vấn đề Biển Đông?

–                           Đối với Ôxtrâylia, cách duy nhất để có thể đạt được mục đích về chính sách trong khu vực là tìm đối tác để cùng làm việc. Ôxtrâylia chỉ là nước nhỏ và không muốn đơn độc một mình, mà muốn làm việc với các nước khác có cùng quan điểm để tìm ra một cơ chế đa phương. Như tôi biết được qua sự tiếp xúc với giới chức chính phủ lúc này là Ôxtrâylia đồng hành với ASEAN để đạt được Bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Đông, hay có thể là một tuyên bố mạnh hơn bản tuyên bố năm 2002. Cho nên Ôxtrâylia đang cố gắng hết sức để làm việc cùng ASEAN nhằm tìm ra cách kiểm soát các vấn đề về Biển Đông. Nhưng viễn ảnh đạt được kết quả như mong muốn thực sự không sáng sủa lắm. Theo tôi, bên ngoài ASEAN mọi người muốn nhìn thấy Ôxtrâylia thành công trong việc thực hiện được một điều gì đó để cuối cùng ASEAN, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Hàn Quốc có thể tạo dựng được một cách để kiềm chế khủng hoảng trên Biển Đông. Nhưng tất cả còn lệ thuộc vào sự hưởng ứng của Mỹ và Trung Quốc. Trong hai nước lớn này, Mỹ là nước có vẻ sẵn sàng hơn trong việc ủng hộ sự hình thành những qui định chung cho Biển Đông. Chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã nói tại Shangri-La là nếu không có một quy định chung như vậy thì khả năng căng thẳng leo thang là có thể xảy ra. Quả bóng đang ở bên sân của Trung Quốc nhưng với những gì mà tôi quan sát, tôi không nghĩ Trung Quốc sẽ có những chuyển động tích cực đáng nói trong vấn đề này.

May lắm chỉ đạt được một thời gian biểu

+ Ông có nói đến việc đưa ra một cơ chế đa phương cho vấn đề Biển Đông. Chúng ta đã có Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và mong đợi Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC), theo ông, đâu là khó kăhn cho ASEAN trong việc tién tới một bộ quy tắc như vậy?

–                           Tôi nghĩ khả năng của ASEAN nhất trí được với nhau về vấn đề này là rất hạn chế. Chúng ta thấy một ví dụ điển hình là xung đột đang diễn ra giữa Thái Lan và Campuchia cho thấy khả năng giải quyết vấn đề của ASEAN giữa các thành viên hạn chế thế nào. Rõ ràng là ASEAN cũng làm được những điều đó có lợi cho các nước thành viên, nhưng ASEAN còn hạn chế trong các vấn đề về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Và việc mà chúng ta đang làm là thiết lập được COC cho ASEAN và Trung Quốc. Điều này đang tạo ra một khó khăn kép cho ASEAN. Thứ nhất là sự khác biệt giữa các nước nội khối, họ cũng có tranh chấp với nhau. Thứ hai là với Trung Quốc, Mỹ. Cho nên khó mà có thể hy vọng vào một COC phát xuất trước từ ASEAN có tính ràng buộc và làm dịu tình hình trong tương lại gần. ASEAN theo đuổi con đường ngoại giao và điều đó có thể xảy ra theo tôi có lẽ là một dạng giữa COC và DOC có thể là một thoả thuận giữa các bên về một quá trình tiến tới đạt được COC.

Tôi nghĩ do sự khác biệt giữa các nước mà một COC có tính ràng buộc là rất khó đạt được, nhưng rõ ràng là đã 9 năm rồi và vấn đề chỉ càng trở nên phức tạp hơn ngay cả trong trường hợp ASEAN muốn giữ thể diện của mình mà nói rằng muốn làm được cái gì đó để cho mọi người thấy. Tôi nghĩ là rất có thể chúng ta sẽ nhìn thấy cái gì đó như làm một tiến trình, một thời gian biểu, vì ASEAN thì thích cáic gọi là quá trình nhưng tôi không tin là một COC mà có thể thoả mãn được tất cả các bên sớm thành hình./.

Advertisements

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

159. Dừng cuộc thi nói không với chữ U

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

Dừng cuộc thi nói không với chữ U

Đỗ Trung Quân

Từ sáng kiến của tiến sĩ Nguyễn Quang A: “Sản xuất  20 triệu áo, mũ in chữ U-NO, U gạch chéo giúp ngư dân bám biển “ do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức và thực hiện. Đại học Hoa Sen thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức một  cuộc thi Thiết Kế Logo Non-U, “Nói KHÔNG với đường lưỡi bò” kêu gọi tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam thể hiện qua những việc làm, hành động cụ thể đối với việc xác định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, góp phần bảo vệ hòa bình, hợp tác và phát triển trong cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á…”

Nhưng chỉ chưa đầy một tuần lễ kể từ khi chính thức đưa ra thư ngỏ gửi các bạn sinh viên của Ban tổ chức Đại học Hoa Sen ngày 5- 7 -2011. Tin nhắn [ muốn được giấu tên ] của một thành viên BTC đã được gửi cho các thành viên Ban giám khảo:”Do có một số thay đổi vào phút cuối xin tạm thời ngừng và phát tán thông tin về cuộc thi. Cảm ơn và sẽ thông báo sau …”

Thông tin ấy bất ngờ nhưng suy cho cùng không gây ngạc nhiên cho những  ai đang quan tâm và ủng hộ những chương trình như thế , nếu có câu hỏi thắc mắc tại sao, thì câu trả lời cũng dễ hiểu, rằng gạch chéo hai đường chống thuốc lá , chống tệ nạn dễ hơn gạch chéo cái đường “ lưỡi bò “ Đại Hán nhảm nhí kia.

Nhưng suy cho cùng một cuộc thi không thể tổ chức thì đất nước này có hàng vạn họa sĩ, ai cũng có thể tự vẽ cho mình hai đường gạch chéo  lên cái “ chữ U” ngạo mạn , bất chấp luật lệ quốc tế kia.  Không có gì dễ dàng hơn thế.

Qúa dễ !

Bổ sung, hồi 15h15′, TS Nguyễn Quang A gửi vài hàng thông báo đề nghị “cho công bố 6 biểu tượng đã có trước xa ý định của ĐH Hoa Sen.  
Các họa sỹ Văn Sáng và Lý Trực Dũng đã tích cực vẽ biểu tượng ngay từ ngày đầu. Kts Võ Thành Lân cũng thế. Rất cảm ơn các Anh. 
6 cái biểu tượng này đã có từ thứ ba tuần trước. Nay thấy cần đưa ra rộng rãi để bà con cứ thế mà in (decal, sticker dán trên mũ bảo hiểm, kính xe ô tô, cặp học sinh,… hay in trên áo mưa, áo thun). 4 cái là tác phẩm của họa sỹ Lý trực Dũng, 2 cái là của kiến trúc sư Võ Thành Lân. Theo 2 họa sỹ, các file jpeg này đưa đến nơi làm áo, làm decal là in được ngay. Vậy báo để bà con làm cho khoảng 3 triệu xe ô tô (in cỡ A4) và hàng chục triệu mũ bảo hiểm (cỡ 25 cm2). 
Ai muốn in thành áo (áo thun, áo mưa) xin cứ tùy thích. Và chẳng bọn “phản động” nào có thể cản được bà con làm việc này.”

Còn theo ngu ý BS thì nên tham khảo hình phổ biến mấy bữa nay, nếu ngại “ảnh hưởng quan hệ ngoại giao” thì bỏ mấy ngôi sao, chữ China và chỉnh cái bản đồ đừng chi tiết quá, tụi bành trướng bá quyền không có cớ để cự nự, là ổn. Về mặt “thời trang” cái hình nầy lại rất bắt mắt nữa chớ. Nhưng … cũng coi chừng lại bị đi tù vì hành động yêu nước rất bình thường như vậy.

 

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

158. Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Số 381 Tháng 6 – 2011

Trần Trọng Kim và bộ sách

giáo khoa bậc sơ học

Phan Trọng Báu

BỘ SÁCH GIÁO KHOA BẬC SƠ HỌC CỦA TRẦN TRỌNG KIM CHỦ BIÊN MÀ CHÚNG TÔI MUỐN NÓI Ở ĐÂY LÀ NHỮNG CUỐN: SỬ KÝ GIÁO KHOA THƯ, LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ VÀ QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ CỦA CÁC TẦNG LỚP ĐỒNG ẤU (LỚP NĂM), DỰ BỊ (LỚP TƯ) SƠ ĐẲNG (LỚP BA) DO NHA HỌC CHÍNH ĐÔNG PHÁP QUẢN LÝ. NGOÀI TRẦN TRỌNG KIM CÒN CÓ CÁC ÔNG NGUYỄN VĂN NGỌC, ĐẶNG ĐÌNH PHÚC VÀ ĐỖ THẬN THAM GIA BIÊN SOẠN.

Sách giáo khoa bậc sơ học trước Trần Trọng Kim

 

Từ khi mới tổ chức nền giáo dục ở Nam kỳ (1861) cho đến trước cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), nhà cầm quyền Pháp đã gặp một vấn đề nan giải là sách giáo khoa, vì không có người đủ năng lực để biên soạn đã đành, mà còn làm sao cho nội dung của sách phải phù hợp với tâm sinh lý của nền giáo dục Nho giáo. Thời kỳ đầu chưa có sách giáo khoa, họ đã phải cho học sinh dùng tờ Gia Đình báo làm sách tập đọc. Một thời gian sau họ lại mang sách từ Pháp sang nhưng vì không hợp với năng lực của giáo viên và trình độ của học sinh nên kết quả rất hạn chế. Cho đến những năm 80 của thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký và một số giáo viên người Việt và người Pháp ở cơ quan học chính Nam Kỳ đã biên soạn hoặc dịch một số sách giáo khoa tiếng Pháp để dạy trong các trường tiểu học. Những sách này dần dần được bổ sung thêm một số quyển khác và đã thành những sách dạy trong các trường tiểu học lúc đó(1).

Đa số những sách này hoặc do chữ Quốc ngữ mới ở thời kỳ đầu sơ khai, hoặc mô phỏng sách giáo khoa tiểu học Pháp, hoặc trình độ dịch còn non yếu nên câu chữ lủng củng và do đó, cách diễn đạt nội dung có phần hạn chế. Cũng do mô phỏng nên 82 bài trong Sách tập học của Pot-taux (Sài Gòn 1875) thì 70 bài là khoa học thưởng thức về địa lý (núi non, sông biển, các nước trên địa cầu…), cơ khí máy móc (các nguyên lý máy móc, đường sắt, xe lửa…), còn lại hai bài có nội dung xã hội nhưng là của nước Pháp nhiều hơn là của Việt Nam (Ông Montyon, Chuyện một công chúa làm phước, Những người tu trên núi St Bernard…). Sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), sách giáo khoa vẫn chưa được cải thiện là bao nhiêu. Sách cách trí và ngay cả sách địa dư cũng do một số người Pháp biên soạn và người mình dịch lại(2). Như vậy việc biên soạn một bộ sách giáo khoa phù hợp với trình độ của học trò sơ học là rất cần thiết và cấp bách.

Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học

Theo qui chế của cải cách gioá dục lần thứ 2 (1917) thì bậc tiểu học có 5 lớp (đồng ấu, dự bị, sơ đẳng, lớp nhì và lớp nhất), đến 1925 lại có thêm lớp nhì đệ nhất cộng là 6 năm. Bậc tiểu học được chia làm hai: sơ học là 3 lớp dưới gồm đồng ấu (lớp năm), dự bị (lớp tư), sơ đẳng (lớp ba) và tiểu học là 3 lớp trên (nhì đệ nhất, nhì đệ nhị, lớp nhất). Ba lớp dưới được dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, chỉ có trường nào dạy toàn cấp (tiểu học bị thể hay kiêm bị) thì mới dạy chữ Pháp. Bộ sách giáo khoa của Trần Trọng Kim dùng cho ba lớp như ta đã biết gồm:

–         Sử ký địa dư giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng).

–         Luân lý giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sở đẳng).

–         Quốc văn giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng).

Sử ký địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng là cuốn sách đầu tiên chúng tôi muốn giới thiệu. Cuốn này do hai ông Trần Trọng Kim và Đặng Đình Phúc biên soạn. Mở đầu các tác giả viết:

“Theo qui chế mới thì lớp Đồng ấu không dạy sử, còn lớp Dự bị sử ký chỉ dạy những truyện cổ tích, truyện ký sự và những chuyện của các danh nhân trong lịch sử theo đúng chương trình đã định. Đến lớp Sơ đảng thì mới dạy sử ký và không dạy lẻ loi từng truyện một như ở lớp Dự bị nữa; từ đầu đến cuối bài nọ liên lạc với bài kia và các biến cố lớn đều quan hệ với nhau”(3).

Do đó ta thấy môn Sử ký lớp Dự bị là những truyện Sơn tinh Thuỷ tinh, Phù đổng thiên vương đánh giặc Ân, Lê Lợi đánh quân Minh… Còn Sử ký lớp Sơ đẳng được chia làm 6 chương, gồm:

Chương một: Thượng cổ thời đại nói về nguồn gốc dân tộc, sự tích Lạc Long Quân, Âu Cơ; 18 đời vua Hùng…

Chương hai: Bắc thuộc thời đại, với những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc: lần thứ nhất kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng; lần thứ hai kết thúc với cuộc giành độc lập của Lý Bôn thành lập nhà Tiền Lý; Bắc thuộc lần thứ ba kết thúc bằng sự dấy nghiệp của Khúc Thừa Dụ.

Chương ba: chấm dứt ba lần Bắc thuộc hơn nghìn năm mở đầu cho “tự chủ thời đại” với các võ công văn trị của các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê.

Tiếp theo là chương bốn có tiêu đề “Nam Bắc phân tranh thời đại” với những cuộc nội chiến liên miên giữa Trịnh – Mạc rồi Trịnh – Nguyễn và cuối cùng là khởi nghĩa Tây Sơn, chấm dứt một thời gian dài nội chiến và chia cắt.

Nhưng cuộc thống nhất thực sự và hoàn toàn phải đến sau khi Nguyễn Ánh đánh thắng nhà Tây Sơn. Do đó chương năm là đề mục của Thống nhất thời đại vưói các triều Gia Long, Minh Mạng, Triệu Trị và các sự biến loạn dưới triều Tự Đức. Cuối cùng là chương sáu “Người Pháp sang bên ta” với các hoà ước 1862, 1855 rồi “Các công cuộc người Pháp làm ở nước Nam” như “dẹp loạn” (người Pháp còn dùng từ “bình định”), xếp đặt việc cai trị, xây dựng kinh tế, mở mang y tế và học hành…

Cuối sách còn có niên biểu chép từ họ Hồng Bàng đến 1926 là năm vua Bảo Đại lên ngôi.

Ta thấy cuốn sách trình bày khá hợp lý. Tác giả đã tóm tắt cốt lõi của lịch sử, viết hết sức ngắn gọn, sự kiện cuối cùng của một chương thường là nguyên nhân mở đầu cho thời kỳ tự chủ; hoặc lợi dụng lúc nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Ánh đã đánh bại nhà Tây Sơn, chấm dứt thời kỳ chia cắt, mở đầu thời kỳ thống nhất đất nước.

Tuy viết cho học sinh nhỏ tuổi nhưng tác giả cũng đã cho các em tập làm quen với sự chân xác lịch sử, hoặc những nghi vấn, ví như họ Hồng Bàng cả thảy có 20 đời vua trị vì trong 2621 năm (2879 – 258 TCN) mỗi đời vua là 138 năm “thì thật là vô lý. Cho dù tuổi thọ của người xưa có thể dài nhưng cũng không thể sống lâu được như vậy”. Hoặc đánh giá đúng mức một số quan Tàu có công trong việc truyền bá văn minh cho dân nước ta buổi đầu: Tích Quang thái thú quận Giao Chỉ, Nhâm Diên thái thú quận Cửu Chân đã bắt dân ta theo lễ nghĩa, con trai con gái ăn ở với nhau phải theo phép cưới hỏi; Sĩ Nhiếp đã có công đưa chữ Hán sang dạy người nước ta… “Đó là những người nhân chính muốn mở mang cho người mình”(4). Hay như phong trào chống Pháp của nhân dân ta cuối thể kỷ XIX, tác giả cũng cho rằng: “Các quan và đảng Văn Thân tuy phần nhiều là người có nghĩa khí nhưng thế lực không đủ lâu ngày cũng phải tan cả”(5).

Đó là về sử ký, còn về địa dư, cuốn sách trình bày các vấn đề địa lý của năm xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao (Lào) và Cao Miên (Campuchia). Tuy rất ngắn gọn nhưng học sinh cũng có thể phân biệt được những yếu tố cấu thành địa lý của từng xứ: hình thế (vị trí, giới hạn, diện tích) khí hậu, sông ngòi; chính trị; kinh tế; công nghệ; giao thông thuỷ bộ, các thành phố lớn… Tuy nhiên tác giả cũng lưu ý: “Trước khi học địa dư toàn xứ cần cho trẻ học địa dư tỉnh nó ở và các tỉnh lân cận”. Tác giả đã lấy tỉnh Hà Đông làm ví dụ và viết tiếp: “Ông thầy theo những bài ấy mà đặt những bài mình phải dạy”(6).

Luân lý giáo khoa thư lớp Sơ đẳng là cuốn thứ hai mà chúng tôi muốn giới thiệu. Từ năm 1917 khi đang làm chủ nhiệm tờ Học báo là nội san hướng dẫn phương pháp sư phạm và nội dung giảng dạy bậc sơ đẳng tiểu học cho mãi đến sau này, Trần Trọng Kim vẫn luôn giữ mụcLuân ký và Lịch sử Việt Nam. Năm 1925, cuốn Luân lý giáo khoa thư lớp Đồng ấu ra đời: sau đó lần lượt các cuốn của lớp Dự bị và Sơ đẳng nhưng Luân lý lớp Sơ đẳng là đầy đủ hơn cả, ngoài 4 chương trình còn có phụ lực về phong tục, đon từ, thư khế(7).

Trong bốn chương thì chương 1 và 4 là quan trọng nhất, chiếm số bài nhiều hơn cả (chương 1: 16 bài, chương 4: 18 bài).

Chữ Hiếu được coi trọng hàng đầu trong chương “Bổn phận đối với gia tộc”. Nó không chỉ là thương yêu bố mẹ, vâng lời bố mẹ mà còn phải phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu, thờ cúng khi bố mẹ đã mất. Nó liên quan đến nghĩa gia tộc, tức là cháu đối với ông bà, anh trưởng đối với em…

Còn “Bổn phận đối với học đường” thì không những phải đi học, phải luôn luôn quan tâm đến học vấn tức là “Kiến thức thâu thái được ở trường” và giáo dục  tưức  là  “cách mở mang trí tuệ, rèn luyện cho có đủ tư cách làm một người dân trong xã hội”, mà còn phải coi trọng bổn phận đối với thầy, đối với bạn khi đang ngồi trên ghế nhà trường cũng như khi đã thôi học.

Đối với bản thân thì sao? Đó là phải biết trọng linh hồn, biết quí thân thể. Ăn uống điều độ, rèn luyện thể chất, xa rời cờ bạc, rượu chè và nhất là không nghiện thuốc phiện.

Con người luôn là con người xã hội, cho nên tác giả đã dành 18 bài cho chương 4, chương cuối cùng và cũng là một trong hai phần quan trọng nhất của cuốn sách. Nếu như chương I “chữ hiếu” là vấn đề quán xuyến thì ở đây tinh thần “Công bằng và nhân ái” là sợi chỉ xuyên suốt, gồm những vấn đề như trọng tính mệnh tài sản và danh giá người khác, không nói vu, không nói xấu. Lòng nhân ái bao gồm cả tính hữu ái, lòng thí xã, việc thiện, bố thí, thương yêu loài vật… Cuốn sách cũng không quên gói lại bằng một bài “kính mến và biết ơn Nhà nước”.

Mỗi bài học đều có nội dung rất ngắn gọn, tiếp theo là một tiểu dẫn có tính minh hoạ, cuối cùng là một câu cách ngôn hoạc chữ Hán hoặc tiếng Việt thâu tóm cái “thần” của bài học(8). Phần phụ gồm Phong tục đơn từ, thư khế có thể coi như phần thu nhỏ của giáo dục công dân. Từ chương I đến chương VI là tóm lược tổ chức chính quyền xã, huyện, tỉnh của năm xứ Đông Dương và chính thể Đông Pháp. Chương VII là cúng lễ, hội hè. Chương VIII nói về lễ hôn và lễ tang. Chương IX gồm đơn xin khẩn điển, giảm thuế, văn tự vay nợ, chúc thư chia gia tài…

Tóm lại, nếu học đầy đủ Luân lý giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, học sinh cũng đã có thể hiểu được bổn phận đối với gia đình và xã hội, những điều sơ đẳng về thể chế, pháp luật cần tuân theo để làm một công dân tốt.

Tuy nhiên nói đến sách giáo khoa sơ học của Trần Trọng Kim thì Quốc văn giáo khoa thư ba lớp Đồng ấu Dự bị và Sở đẳng được người ta chú ý hơn cả.

Tuy nói là “quốc văn” nhưng nội dung chủ yếu của lớp Dự bị lại là lịch sử hay đúng hơn là những nhân vật lịch sử như Truyện hai chị em Bà Trưng, Truyện Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Kim; ông tổ sáng nghiệp ra nhà Nguyễn: Nguyễn Hoàng. Có khi thông qua một nhân vật mà nói lên một sự kiện trọng đại của lịch sử đất nước như Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Hà Nội, Cố A. Đờ Rốt và việc đặt ra chữ Quốc ngữ, Luỹ Đồng Hới (gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ và thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh). Chữ Nho. Còn nội dung cuốn Quốc văn của lớp Đồng ấu và Sơ đẳng thì người ta lại nói nhiều đến luân lý, tính văn học chỉ là điểm xuyết của một số bài tả cảnh, “mùa cấy”, “mùa gặt”, “cảnh mùa xuân”, “cánh đồng nhà quê” của lớp Đồng ấu, ca dao hoặc một bài thơ cổ “con cò mà đi ăn đêm” của lớp Dự bị, “vào hè”, “vịnh cái chổi”, của lớp Sơ đẳng…

Tại sao tác giả lại chú ý đến luân lý như vậy? Ta biết rằng bậc sơ học chủ yếu yếu là dạy cho học trò ở nông thôn: “Học trò phần nhiều chỉ có thể học mấy năm cho biết đọc biết viết rồi về làm ruộng, không có chí học đến lấy bằng tốt nghiệp tiểu học đến lấy bằng tốt nghiệp tiểu học thì chỉ nên đặt trường sơ đẳng mà thôi”(9). Có thể nói mục tiêu của trường sơ đẳng là đạo tạo “trí thức làng xã”, mà tầng lớp này thì không thể vội vã “chỉ trong hai thế hệ là có thể làm cho họ nói và suy nghĩ bằng tiếng Pháp” được. Bởi vì đối với người Việt Nam thì “Những nguyên tắc làm cho gia đình vững chắc, cha mẹ được tôn kính, chính quyền được tuân thủ, đều rút từ sách Hán học. Bắt đầu tập đọc những chữ đầu tiên là họ học những những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ suốt cả cuộc đời. Chính các trường làng sẽ cung cấp cho họ nền giáo dục đó (TG nhấn mạnh)(10)

Chính theo định hướng trên mà Quốc văn giáo khoa thư bậc sơ học, bậc của học sinh nông thôn, rất quan tâm đến luân lý. Ngoài sách luân lý có tính “chuyên đề”, sách quốc văn vẫn nhắc lại một số nội dung chính. Như đã trình bày, sách quản lý lớp Đồng ấu chữ hiếu được để lên hàng đầu thì ở đây sách Quốc văn lớp Đồng ấu, chữ Hiếu vẫn là những bài học chiếm tỷ lệ khá lớn. Chữ Hiếu được hiển hiện bằng những việc làm cụ thể: Giúp đỡ cha mẹ; Đi phải thưa, về phải trình; Sớm tối chăm non cha mẹ; Gọi dạ bảo vâng; Thờ cúng tổ tiên; Cháu phải kính mến ông bà…

Một số “bổn phận” cũng được nhắc lại: Đối với bản thân: Đừng để móng tay dìa; chớ nhổ bậy; chớ tắm rửa bằng nước bẩn; tham thực cực thân… Đối với học đường: Học trò phải biết ơn thầy; anh em bạn học phải giúp đỡ lẫn nhau (chuyện Lưu Bình – Dương Lễ)… Nếu như quốc văn lớp Đồng ấu chữ “hiếu” và những “bổn phận” được nhắc lại với những bài dễ thuộc dễ nhớ thì nội dung luân lý trong quốc văn lớp Sơ đẳng được nâng cao và sâu sắc hơn. Ở đây chữ “hiếu” vẫn được đề cao nhưng không phải là những lời khuyên bảo về một công việc cụ thể mà là những điển hình như: “sự hoà thuận và thương yêu nhau trong gia đình” (Chuyện anh em họ Điền), “lòng thảo hiếm có” (chuyện Mẫn Tử Khiên đối với em khác mẹ), “Lòng kính yêu chị” (Lý Tích nấu cháo cho chị bị cháy cả râu). Tình bạn thì “Đạo bằng hữu phải cho có thuỷ chung” (Chuyện Dương Tiêu Sơn và Từ Từ Dữ); “Lưu Bình – Dương Lễ”…. Đặc biệt một số vấn đề lớn của luân lý Nho giáo được đề cập như tu thân: “Cách sửa mình” (Trình Tử) “Có học phải có hạnh” (chuyện Sài Thế Viễn trọng đạo đức hơn văn chương); “Không tham của người” (chuyện ông Nguyễn Đình Thản đào được vàng đã giao lại chủ cũ), “Cần phải giữ gìn tính hạnh của mình” (chuyện một người đi đường lội, lúc đầu thì chú ý giữ gìn đôi giầy, nhưng sau khi bị bẩn thì cứ bước tràn đi). Lập chí: Người con trai là phải “quyết chí tu thân” để chờ “Phong vân gặp hội, anh hào ra tay” trong bài cao dao “Chí làm trai”. Không sợ nghèo khó (chuyện ông Châu Trí đốt lá đa mà học, sau đi thi đỗ giải Nguyên). Trị quốc: Nêu gương những nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc và Việt Nam: Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Văn An…

Trở lên chúng tôi đã trình bày những nét cơ bản về nội dung của những sách giáo khoa thư bậc Sơ học. Còn hình thức thì sao? Hầu hết những cuốn giáo khoa thư này đều biên soạn khi mà nền quốc văn của ta không còn là sơ khai như đầu thế kỷ mà đã có những bước tiến rõ rệt về cách diễn đạt. Do đó những bài ca dao cổ, thơ cổ, tác giả thường để nguyên (Lính thú đời xưa; Thằng mõ (của Lê Thánh Tông). Cũng có một vài bài ca dao tác giả đã sáng tác để phục vụ cho một chủ đề nào đó, ví dụ “Đi học phải đúng giờ”, “khuyên học”. Tất cả những bài hát đều theo thể lục bát, dễ nhớ, dễ thuộc(11). Còn những bài văn xuôi, trừ một số rất ít bài mô phỏng theo ngụ ngôn Ézope (Cái lưỡi), Lafontaine (Con chồn và con gà trống), Cổ học tinh hoa (cách sửa mình) còn đều là những sáng tác theo chủ điểm: trường học, luân lý, lịch sử, phong cảnh đất nước, một số hiểu biết về tự nhiên hoặc xã hội… Nhưng bất kỳ mô phỏng hay sáng tác, những bài quốc văn đều ngắn gọn, lời văn sáng sủa, đôi khi giải thích một vấn đề khó, trừu tượng hoặc mang một ý nghĩa triết lý nhân sinh nhưng vẫn dễ hiểu đối với lứa tuổi mới cắp sách đến trường(12). Chúng ta ai đã học ít nhiều ở trường Pháp – Việt trước 1945 hẳn cũng còn nhớ một vài câu rất ấn tượng: về một niềm vui nho nhỏ của một cậu bé “nhà quê”, một niềm vui làm ta bất ngờ: Ai bảo chăn trâu là khổ? Không, chăn trâu sướng lắm chứ! Hay nỗi buồn, nỗi buồn của một chú bé lần đầu tiên xa nhà không da diết lắm nhưng cũng không kém phần sâu sắc: “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Nhà văn Sơn Nam đã từng viết về ảnh hưởng sâu sắc của những sách giáo khoa này đối với cả một thế hệ người Việt ở nông thôn cũng như ở thành thị, trong truyện ngắn nổi tiếng “Mối tình giáo khoa thư”.

Minh hoạ cũng là một bộ phận cấu thành của các cuốn sách. Nó làm cho nội dung phong phú hơn, sâu sắc hơn và cũng dễ hiểu hơn. “Sự mở mang của người Pháp ở xứ ta” trong sách luân lý lớp Sơ đẳng chỉ có một bài nhưng những minh hoạ đẹp về trường Cao đẳng, nhà Bưu chính, nhà thương chữa mắt, cầu Hàm Rồng… đã gây ấn tượng khá đậm trong đầu óc ngây thơ của trẻ em về những công trình hiện đại của người Pháp bên cạnh những bức tranh quen thuộc về cảnh gia đình, làng xóm… Riêng Sử ký là cuốn sách có ưu thế nhất về minh hoạ, với tranh những vị võ tướng xưa giáp trụ oai phong, trường đao, đoản kiếm đầy vẻ lẫm liệt (Triệu Quang Phục, Lữ Gia…), Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt phun ra lửa, vung roi sắt diệt giặc Ân, hoặc “quân đi điệp điệp trùng trùng” giữa đoàn voi chiến của “Hai Bà Trưng đánh giặc Hán”… đã làm tăng thêm thích thú học sử của lứa tuổi thiếu nhi.

Tuy nhiên bộ sách cũng bộc lộ một vài thiếu sót như chữ “hiếu” đã nói kỹ trong sách luân lý nhưng còn lặp lại quá nhiều trong sách quốc văn sẽ gây nhàm chán cho người đọc. Về các bài học, nói chung ngắn gọn nhưng trong sách Luân lý có những bài giải thích dài dòng (Ăn uống có điều độ, không nên nghiện rượu…). Hình thức trong Quốc văn giáo khoa thư có thể còn phong phú hơn nếu các tác giả chú ý đến các thể loại về tường thuật, tả cảnh, tả tình, thơ… thì còn gây thêm hứng thú cho người đọc.

Vài nhận xét

Bộ sách giáo khoa bậc Sơ học do Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn ra đời vào lúc cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1917) đã tiến hành được gần 10 năm và đang đi dần vào ổn định. Chữ Quốc ngữ được phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến đây đã qua khỏi bước chập chững buổi đầu, trở nên nhuần nhuyễn hơn. Riêng đối với các tác giả thì đều là những người sâu sắc cựu học vững vàng tân học, đa số là giáo chức ngạch bậc cao như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc (thanh tra tiểu học), Đặng Đình Phúc (giáo viên hạng nhất ngạch bản xứ), hoặc có địa vị xã hội khá cao (Đỗ Thận, Uỷ viên hội đồng Thành phố) và tất cả đều đã từng viết sách giáo khoa, nhất là Trần Trọng Kim và Đỗ Thận. Do đó từ việc lựa chọn nội dung, cách diễn đạt đều có một văn phong thống nhất, trong sáng và dễ hiểu. Đặc biệt trong tất cả các cuốn sách bóng dáng của những quan cai trị người Âu đều rất thưa vắng. Ngoại trừ Paul Bert viên Tổng trú sứ kiêm nhà khoa học, nhà giáo dục và Bá Đa Lộc người đã giúp Gia Long đánh bại nhà Tây Sơn ra, còn lại là những nhà khoa học lớn của nhân loại hoặc của dân tộc Việt Nam như Pasteur, Alexandre de Rhodes, một trong những người sáng chế ra chữ Quốc ngữ, hay bà phước Phêlixien đã tận tâm săn sóc người bị bệnh phong và đã từ trần ở Sóc Trăng vào cuối thế kỷ XIX. Nếu ta biết rằng ở giai đoạn trước (1906-1917) người ta đã đưa cuốn “Đại Pháp công thần” của Lê Văn Thơm làm sách giáo khoa nhằm ca ngợi “mẫu quốc” Pháp, thì ở đây những cuốn sách giáo khoa do Trần Trọng Kim chủ biên đã có tính dân tộc rất cao, trong lịch sử là những anh hùng cứu nước, những vị vua sáng lập ra các triều đại, trong luân lý quốc văn là những người con hiếu thảo, nhằm nêu gương sáng về đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, tu thân, tề gia, quốc trị… Tất cả đã quán xuyến toàn bộ sách giáo khoa Sử ký Địa dưLuân lý và đặc biệt là ba cuốn Quốc văn giáo khoa thư của các lớp Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng. Đó chính là những “giá trị dân tộc đích thực” (chữ của Trịnh Văn Thảo trong “Nhà trường Pháp ở Đông Dương”) và nhóm biên soạn đứng đầu là Trần Trọng Kim xứng đáng được đánh giá cao là những nhà sư phạm sáng giá, những nhà biên soạn sách giáo khoa mẫu mực của một giai đoạn lịch sử giáo dục của dân tộc ta.

CHÚ THÍCH

  1. Trương Vĩnh Ký, Abrégé de grammaire Annamite (Sơ lược ngữ Pháp An Nam), Sài Gòn, 1867; Cours d’histoire annamite (Lịch sử nước An Nam), Sài Gòn, 1875; Petit cours de geographie de la Basse Cochinchine (Sơ lược địa dư An Nam lục tỉnh), Sài Gòn, 1875; Thông loại khóa trình, Sài Gòn, 1888; Cours d’annamite (Bài tập tiếng An Nam), Sài Gòn, 1889. Huỳnh Tịnh CủaSách bác học sơ giải, Sài Gòn, 1887. Trương Vĩnh Ký, Tập dạy học tiếng Pha lang sa và tiếng Annam, Sài Gòn, 1892.
  2. Gourdon, Bác vật sơ độc nhập môn – Vô sanh động vật. Nguyễn Văn Mai dịch, Sài Gòn 1911. Ph. Eberhardt, Bài cách trí với tập đọc. Tập II. Thực vật, Trần Văn Thông dịch, Hà Nội 1912. Tập III.Người và động vật. Phạm Văn Hữu (giáo thụ trường Sư phạm Hà Nội) dịch, Hà Nội, 1912. Ruissier, Đông Dương địa dư, Đỗ Thận dịch.
  3. Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Sử ký Địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, in lần thứ 8, 1935, tr.1.
  4. Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Sử ký địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng (In lần thứ 3, Hà Nội, 1928, tr.13, 17).
  5. Sđd, tr.91.
  6. Bài mẫu: Địa dư tỉnh Hà Đông: 1. Hình thể; 2. Chính trị (Dân sự, cai trị); 3. Giao thông; 4. Kinh tế, sản vật công nghệ, thương mại. Thời gian này đã xuất hiện một số sách đại dư các tỉnh Nghệ An của đốc học Đào Đăng Hy, Hà Tĩnh của đốc học Trần Kinh, địa chí tỉnh Vĩnh yên của Nha học chính Vĩnh Yên…
  7. Sách này do bốn tác giả Trần Trọng Kim Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Bốn chương chính: 1. Bổn phận đối với gia tộc; 2. Bổn phận đối với học đường; 3. Bổn phận đối với bản thân; 4. Bổn phận đối với xã hội.
  8. Ví dụ bài nói về “Phép dưỡng sinh”: Ăn không no quá, uống không nhiều quá, đồng đừng ấm quá, hè đừng mát quá, ngủ sớm dậy sớm, có giờ có giấc, làm lụng có chừng, nghỉ ngơi có độ, chơi bời vừa phải, đừng có điều gì thái quá. Tiểu dẫn: Hoa Đà trả lời học trò về cách sống lâu. Cách ngôn: Ăn để sống không phải sống để ăn.

Xem Lòng nhân ái, tiểu dẫn: Vua Lý Thánh Tôn cởi áo đắp cho người sắp bị chết rét. Cách ngôn: Thương người như thể thương thân.

Lòng thí xã, tiểu dẫn: Lê Lai cứu chúa. Cách ngôn: Cúc cung tận tuỵ, tử nhi hậu dĩ.

  1. Tạp chí Nam Phong, số 12 (6-1918), tr.331.
  2. Báo cáo của toàn quyền P. Doumer trước Thượng Hội đồng Đông Dương 1897 – 1902.
  3. 11.                     Lính thú đời xưa:

Ngang lưng thì thắt bao vàng

Đầu đội nón dấu vai mang súng dài.

Một tay thì cắp hoả mai,

Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền.

Thùng thùng đánh trống ngũ liên,

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Đi học thì phải đúng giờ

Xuân đi học coi người hớn hở

Gặp cậu Thu đi ở giữa đường

Hỏi rằng: sao đã vội vàng

Trống chưa nghe đánh tới trường làm chi

Thôi hãy hượm đừng đi anh ạ

Này con khăng tôi đã sẵn rồi

Cùng nhau ta hãy đánh chơi

Lát rồi ta sẽ tới nơi cũng vừa

Thu đáp: Dẫu giờ còn sớm

Cũng nên đi kẻo chậm làm sao?

Nếu chờ khi đánh trống vào

Dẫu ta rảo bước tài nào kịp cho

Trễ giờ ta phải nên lo

  1. Chuyện “Người đi đường với con chó”. Một người cưỡi ngựa bị một con chó đuổi theo. Người đi đường không cần đánh con chó mà chỉ kêu lên: Chó dại! Chó dại! Lập tức mọi người xung quanh đổ ra đánh chết con chó. Bài đọc kết luận: “Gớm thay! Lời nói có khi còn lợi hại hơn đồ binh khí”.

Giải nghĩa “mỹ thuật”…Cơm ăn đã vậy nhưng nếu xới vào bát kiểu và bằng đũa mun thì vẫn ngon hơn; quần áo mặc đã vậy nhưng điểm thêm cái nhẫn, chiếc vòng, đôi hoa thì người mới đẹp thêm ra…

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

Tin thứ Tư, 06-07-2011

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

Kính cáo: Mấy bữa nay lượng phản hồi của độc giả tăng lên quá nhiều, nội dung cũng nặng về bày tỏ thái độ bức xúc, trong khi người quản trị phải tập trung lo tu bổ, nâng cấp trang, khó có điều kiện rà soát, nên cảm phiền bà con, xin tạm thời để mục phản hồi ở chế độ kiểm duyệt trước.

Tin thứ Tư, 06-07-2011

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT

* ĐẶC BIỆT VỀ BIỂN ĐÔNG:

<= – Phỏng vấn LS Trần Vũ Hải: Cần có luật biểu tình để người dân bày tỏ quan điểm, đặc biệt về vấn đề Biển Đông  —  (RFI).

– ĐẤT LIỀN, BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM SỐ LIỆU CHÍNH XÁC LÀ BAO NHIÊU ? (Phạm Viết Đào/Tranhung09).

 

– Dương Bạch Đằng – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông: Biển Đông: Cách tiếp cận của các bên  —  (BBC).

– Tuyên Cáo Chung Về Biển Đông Nam Á Của Người Việt Nam Ở Trong Và Ngoài Nước (BKL).

– Đòi hỏi quyền được thông tin  —  (RFA).  – Trí thức Việt Nam kiến nghị yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin về quan hệ với Trung Quốc   —  (RFI).

– Một giải pháp hòa bình về Hoàng -Trường Sa & Biển Đông theo Định Ước QT 1973 – Tam Viet 2010 – UB Phoi Hop Hanh Dong gioi thieu 5-7-2011 (BKL).

– Điểm tựa cho ngư dân bám biển (SGGP). =>

– Đằng giang tự cổ huyết do hồng (Gocomay) “Nhiều ý kiến bình luận cho rằng, nếu ông Hồ Xuân Sơn không chén chú chén anh với người đồng nhiệm Trương Chí Quân và ông Đới Bỉnh Quốc thì làm sao Tân Hoa Xã dám đưa tin: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam”? Như vậy có phải Bộ Ngoại giao của VN ( mà ông Sơn và bà Nga là đại diện) đã hai lời trong cùng một vấn đề (Biển Đông)?”.

– Song Chi: Vì sao Hà Nội sợ Bắc Kinh đến vậy?  Chuyện rất đáng bàn!  (Người Việt). Nhưng mới nêu được một phần và còn lủng củng, cả đoạn dài sau lan man không đi vào chủ đề chính. Lý do lớn nhất và cực kỳ trớ trêu là: chỗ dựa chính, quan trọng nhất (vật chất, tinh thần, v.v.) và cuối cùng, mà nó lại (quay ra) tấn công mình vào điểm quan trọng nhất, yếu nhất. Nên một khi đảng, nhà nước còn chưa đi vào tìm cách hóa giải mâu thuẫn này, thì vẫn chẳng khác nào như … “múa gậy trong bị”. Gợi ý: phải nhìn lại, chỗ dựa chính, quan trọng nhất và cuối cùng chính là NHÂN DÂN mình.   – Tiêu chuẩn “đánh giặc” (Bút lông).

– Báo Trung Quốc: Có “hàng rào” tốt mới có hàng xóm tốt (NCBĐ).

 South China Sea treaty needed to ease tension, say experts (ABS/CBN News). “While the experts speaking at an international conference in Manila did not expect current tension to lead to conflict, they said there could be skirmishes because of increased activity by claimants to assert jurisdiction over the Spratly Islands. “

– TS Nông Hồng, Canada: Biển Đông: Khía cạnh mới của câu chuyện cũ  —  (BBC) “Tiến sỹ người Trung Quốc Nông Hồng từ Viện Trung Quốc của Đại học Alberta, Canada đặt câu hỏi liệu những động thái mới làm rõ thêm đòi hỏi của các bên và tăng tiềm năng hợp tác khu vực hay là sự thụt lùi về hòa bình và an ninh”.

– Thấy gì qua website hai Đại sứ quán: Việt Nam và Trung Quốc (Tranhung09) “VN: – Đưa tin chung chung về các bước phát triển trong quan hệ hữu nghị. – Không đưa tin về những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ gần đây giữa hai nước. TQ: Ngay trên trang chủ: – Đưa tất cả tin của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với VN”.

–  Aquino to Del Rosario: Resolve Spratly issue in China visit (Business World). Mr. Aquino: “The last report was two unidentified planes that were in an intercept course with two of our patrols. I will have to get information with regard to that incident.”

<=- Thư gửi Họa sỹ Lý Trực Dũng (Lê Dũng) “Ví dụ : anh vẽ cho tôi cái hình máy ảnh máy quay gạch chéo rồi in lên mông quần của các cô gái trẻ, xinh đẹp – CẤM CHỤP ẢNH QUAY PHIM . In cái biển CẤM TỤ TẬP lên ngực ( hai bên vú ) của áo, in CẤM HÒ HÉT Ở ĐÂY rồi cho in lên chỗ ( gần ) đùi của quần Jin nữ….”. 

– Giáo sư chư hầu (DLB) Bài trả lời phỏng vấn của giáo sư Nguyễn Thế Sự nguyên Trưởng khoa tiếng Trung trường Đại học Hà Nội (Thanh Xuân Hà Nội) được đăng trên báo Phượng Hoàng (Hong Kong) ngày 2/7/2011: Giáo sư Việt nam: “ Thanh niên biểu tình chống Trung Quốc là do bị kích động bởi thế lực phản động hải ngoại” Nguyễn Thế Sự giáo sư đã về hưu của khoa Trung văn Trường đại học Hà Nội nói, Việt Nam không dễ gì khai chiến. Hơn nữa những thanh niên đi biểu tình chủ yếu là do phái “phản động” Việt Nam kích động gây ra.

– Trung Quốc cử tàu Giao Long ra biển  —  (BBC). =>

– Làm tràn dầu ra biển rồi giấu: Chinese Oil Spills Leak Out Online (Asian Correspondent).“Two oil spills which were kept secret from the public have highlighted the lack of transparent accident reporting in China’s offshore oil sector.”

– China presses Japan over sea row as Tokyo voices concern (Daily Times). “China said on Monday it had complained to Tokyo about Japanese fishing boats near disputed islands in the East China Sea, while Japan urged talks on the row and voiced concern about its neighbor’s maritime activities.”

– Ông Takeaki Matsumoto, Ngoại trưởng Nhật thăm Trung Quốc: China, Japan seek better ties amid sea disputes (China Daily).During their meeting on Monday morning, Foreign Minister Yang Jiechi and his Japanese counterpart Takeaki Matsumoto reiterated the importance of bilateral relations.”Japan, China FMs call for better ties amid rows (AP/Pakistan Observer).

– Nhật Bản yêu cầu Nga đuổi những người Trung Quốc ra khỏi các đảo Kurils (Kichbu/vz.ru).

– THÔNG BÁO SỐ 2: LỜI KÊU GỌI BIỂU TÌNH Ở BERLIN (9/7/2011)  (NguoiViet.de).

– Paracels Forum – The Discussion Proceeds For Peace: Tuyên bố năm 1979 của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa  — (Boxitvn).

– Bài rất đáng đọc, của TS Lê Hồng Nhật: Tình thế lưỡng nan của VN, Philippines và những cơ hội mới (TVN). Nhưng … Hu hu! Nói cho ngay, là Việt Nam có tới “tam nan” chớ không phải “lưỡng”, nên thiên hạ người ta mới nghi ngại, bàn bạc hợp tác với nhau chán chê rồi, các ông lại trùm chăn mà dàn xếp theo lối “Đảng ta và đảng bạn”, tuyên bố “chuyện xảy ra giữa hai nước láng giềng anh em, hai nước xã hội chủ nghĩa, hai nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo” (như cái ông tướng Nguyên khuyên, nhưng chính là chủ trương nhất quán ở “trên” đó)  thì thế giới nó chào thua. Nó sẽ biểu“Vậy thì mặc m. tụi mầy! Tụi tao tọa sơn quan … cẩu đấu luôn cho rồi”. Hề hề!

– Yêu cầu chính quyền công khai chuyện nước  —  (RFA).

– Thư ngỏ khẩn cấp của ông Bùi Minh Quốc gửi Quốc hội và Ban chấp hành Trung ương Đảng  —  (Boxitvn).

– Vấn đề Biển Đông: VN còn mỏ vàng tri thức Việt kiều (Bee).

– Nguyễn Hưng Quốc: Tội yêu nước  —  (VOA’blog) “Bán nước và độc quyền yêu nước khác hẳn nhau về động cơ. Nhưng biểu hiện bên ngoài và không chừng cả hậu quả nữa, lại là một”.

– Hải trình biển Đông bằng thơ (phần 2)  —   (Cu làng cát).

– Đoàn kết trên biển (Thanh niên).

– Biển Đông: không hiệp ước, chẳng có hoà bình  —  (RFA).

– Canhco: Giữ lửa trong tim (RFA’blog).

– Thời “thiếu muối” của tranh cổ động Việt Nam (TVN).

– Ông cứ yên tâm, ông vẫn là bạn tôi (Lê Dũng) “…thằng bạn này quả đáng thương hại : có tiền vài chục tỷ nhưng chỉ dám đi cái xe Zace cổ, sợ lãnh đạo soi. Vợ thì cứ dọa bỏ suốt ngày, con thì dẹo game với chát chả học hành gì. Khổ thân nó, nghĩ đến biểu tình đã sợ, thương quá”.

– Chiến thắng của phe Áo Đỏ – Thái Lan và bài học cho Việt Nam (Lê Nguyên Hồng).   – Việt Nam quê hương tôi: đến bao giờ? (DLB) “Người dân Thái có được cái quyền mà dân Việt Nam chúng ta không có: chọn lựa người lãnh đạo, cầm quyền cho mình. Họ rất tin tưởng người mà họ chọn sẽ giúp họ và đất nước phát triển”.

– Mồ Côi Đặng Tiểu Bình (Nguyễn Xuân Nghĩa/SBS).

– Hiến chương 08 (零八宪章 Linh Bát Hiến chương) (Phạm Nguyên Trường) “Hiến chương 08 không chỉ kêu gọi cải tổ hệ thống chính trị hiện hành mà còn kêu gọi loại bỏ một số tính chất chủ yếu của chế độ, trong đó có chế độ độc đảng và thay thế bằng một hệ thống dựa vào nhân quyền và chế độ dân chủ”.

– Nguyễn Xuân Nghĩa: Từ Caracas Tới Bắc Kinh  —  (Người Việt).

– Lãnh đạo Minh Trị Duy Tân nói về ngoại giao – Vài suy nghĩ  —  (Boxitvn).

– Nghệ thuật quân sự hải quân (kỳ 4) (Đất Việt/GDQPAN).

– Philippines “cấm cửa” một quan chức sứ quán Trung Quốc (SGGP).  – Khả năng Mỹ đưa quân trở lại Philippines (Thanh niên).

– Lời kêu cứu của gia định nạn nhân Trịnh Xuân Tùng bị công an đánh chết (BKL) “Sự việc đã xảy ra được 4 tháng, cho đến nay vẫn chưa có kết luận gì từ phía cơ quan chức năng về vụ việc này”.

– Khi lãnh đạo đi “xin” (TVN).

– Cách chức chánh văn phòng Mặt trận tỉnh Kiên Giang vì “găm giữ và sử dụng sai mục đích hơn 1,4 tỉ đồng tiền cứu trợ đồng bào bị lũ lụt miền Trung-Tây Nguyên” (PLTP).

– Vatican cảnh cáo Trung Quốc về vấn đề tôn trọng tín lý và kỷ luật của Giáo Hội Công Giáo  —  (Chuacuuthe/La Stampa-Rome).

– Bắc Kinh tiếp tục đàn áp người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương  —  (RFI).

16h:

– Biển Đông: Mặt trận không tiếng súng: Kỳ 3: Có thể quốc tế hoá việc xử lý chèn ép song phương (SGTT).

– Bàn về cách tiếp cận của các bên hữu quan ở Biển Đông (Tầm nhìn/BBC).

– Lục sử… xem vua Gia Long khai thác biển Đông (Đất Việt).

– Phạm Gia Minh: CÓ NÊN BAO CẤP LÒNG YÊU NƯỚC? (Nguyễn Xuân Diện). Ban phát, phân phát lòng yêu nước cho Dân đã là hành động tệ hại, huống hồ nó lại được phân phát theo lối bao cấp. Vậy thì còn gì phải đặt dấu hỏi cho hành động quá tệ đó nữa? Chắc là người viết còn e ngại bị nhà nước bao cấp luôn cái quyền được … viết của mình? Hề hề!
Có điều bài này lại sa vào dẫn dắt quá dài chuyện bao cấp kinh tế nhiều năm trước, trong khi với cái tựa đó, tưởng là sẽ phân tích nhiều về khái niệm mới thế nào là “bao cấp lòng yêu nước”, và tại sao lại không nên làm điều đó.

– Buôn lòng yêu nước (Mai Xuân Dũng) “Hầy, mấy khi bánh đúc có xương, mấy khi cảnh sát thương dân biểu tình. Ô la, chú yêu nước hôm ni được tháo xích tự bao giờ hè…”.

– Nhà báo Trần Quang Thành : “Tôi không tin công an’” (Dân làm báo/Người Việt).

– TQ hoãn thử tàu sân bay có thể vì Biển Đông (VNN).

– Biển Hoa Đông lên bàn đối thoại Nhật – Trung (Tuổi trẻ).  – Trung Quốc không muốn liên quan tới tranh chấp lãnh hải giữa Nga-Nhật (GDVN).

– Ngoại trưởng Philippines sẽ thảo luận tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc (Dân trí).

– Sứ quán TQ lên tiếng vụ nhân viên ngoại giao bị cấm tham gia hội nghị (GDVN).

– Những cái “nhất” của Việt Nam (Nguyễn Hữu Quý).

– Bùi Đức Lại: Hiến pháp và Điều lệ Đảng, mấy điều suy nghĩ (VNN/XD Đảng).

–  Tin nóng: Bộ Công an thu thập tin vụ hối lộ in tiền polymer (Đất Việt).  Đang thu thập mà có kết luận rồi:  Vụ tiền polymer: ‘chưa đủ căn cứ’   —  (BBC).

20h00′:

– Những cột mốc chủ quyền trên biển Đông: Hiên ngang giữa “vùng biển bão tố” (ĐĐK).

– Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991 (ĐĐK).

– Phỏng vấn giáo sư Nguyễn Huệ Chi: Giới trí thức Việt Nam đòi chính quyền không nhân nhượng Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông  —  (RFI).   – 18 trí thức kiến nghị, đòi nhà nước nói thật  — (Người Việt).

– TIN NÓNG: BỘ NGOẠI GIAO VN ĐANG CHUẨN BỊ TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ (Nguyễn Xuân Diện).

– Tập đoàn Dầu khí ‘Dĩ bất biến, ứng vạn biến’ ở biển Đông (Tiền phong).  – PetroVietnam quyết ‘bám trụ’ Biển Đông  —  (BBC).

– Hai biện pháp bảo vệ chủ quyền trên biển (ĐĐK).

– CHỤP ẢNH BIỂU TÌNH (Mai Thanh Hải).

– Ngô Nhân Dụng: Ðòi quyền hội họp, quyền thông tin tự do  —  (Người Việt).

– Bắc Kinh bác bỏ chỉ trích của Manila về một quan chức cao cấp đại sứ quán Trung Quốc  —  (RFI).

– Ngoại trưởng Philippines thăm Bắc Kinh  —  (BBC) “Vị ngoại trưởng Albert del Rosario nói ông sẽ bàn về “vấn đề Biển Tây Philippine, mặc dù vấn đề cụ thể này không phải là toàn bộ quan hệ của Philippines với Trung Quốc”.

– Phân tích ‘một Trung Quốc hai bộ mặt’ (Đất Việt/Global Times).

– Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà – Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết hai đơn tố cáo (CHHV).

– Ông Trần Hoài Ân – Tín đồ PGHH Truyền Thống bị bắt giữ (DLB).

22h – VỤ ÁN ÔNG THÁI LƯƠNG TRÍ VÀ NHỮNG ĐIỀU “KHÓ HIỂU” (VPLS Vì  Dân)

KINH TẾ

– Bất động sản góp phần tăng trưởng (Lý Toét).

– Tăng lương: Đừng quên nguyên tắc cùng tồn tại (PLTP). =>

– Bao giờ người tiêu dùng xăng dầu là Thượng đế? (PLTP).

– Trung Quốc đang ngồi trên ‘bom nợ’?  —  (BBC).  – Nợ xấu của ngân hàng Trung Quốc rất cao so với dự báo  —  (RFI).

– Trung Quốc ồ ạt vét nông sản: Nguy hay cơ? (VEF).

– Không cởi trói, nhiều DN ôtô sẽ đình trệ (VEF).

– “Khai tử” 200 doanh nghiệp xuất khẩu gạo (Dân Việt).

– ‘Bàn tay hữu hình’ của chính phủ Trung Quốc (VEF).

– A. Gary Shilling – Bloomberg: Trung Quốc – Hạ Cánh Tơi Bời – Why China’s Heading for a Hard Landing (Nguyễn Xuân Nghĩa).

– Bà Christine Lagarde – người phụ nữ quyền lực  —  (RFA).

16h:

– Thương lái Trung Quốc lại săn trứng vịt ở VN (VEF/SGTT).

– Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng… khoai lang (SGTT).

– Giải quyết bản chất đầu cơ của thị trường BĐS (Tầm nhìn).

– Moody: Nợ công Trung Quốc chiếm đến 70-80% GDP (Tầm nhìn/BBC, Financial Post).

20h00′:

– Nguyễn Quang A: Người “mỏi cổ chờ lãi suất giảm” đừng nên kinh doanh (Bee).

– Nước mắt người trồng vải (Dân Việt).

– Vàng trắng vẫn bán theo kiểu… cà rem (SGTT) “Đã nhiều năm trôi qua và cũng đã có nhiều bài học “xương máu” nhưng tới nay, việc mua bán cao su vẫn cứ theo kiểu bán cho doanh nghiệp thương mại, rồi các doanh nghiệp này mang hàng ra cửa khẩu chào bán, mà không cần có hợp đồng trước với phía Trung Quốc”.

VĂN HÓA-THỂ THAO

<=- Karaoke: Chung sống với tiêu cực (NLĐ). 

– BÁT NHÁO CHUYỆN ĐÀO TẠO NGHỆ SĨ – BÀI 4 – Mòn mỏi chờ ngày tỏa sáng (PLTP).

– Trưởng bộ môn wushu VN bị kỷ luật (NLĐ).

– Phim lịch sử: Mòn mỏi chờ sóng hay ngậm ngùi cất kho? (Thanh niên).

– “Nín thở” chờ thành công của phim kinh dị Việt! (VnMedia).

16h:

– Truyền hình thiếu nhi: Kẻ quyền lực, người thờ ơ (Bài 1) (TT&VH).

– Thành nhà Hồ trở thành Di sản văn hóa thế giới: “Nóng” chuyện bảo tồn và phát huy giá trị (HNM).

– Nhà văn chơi blog (Quê choa).

20h00′:

– Cát tặc biến di tích thành… cổ tích (ĐĐK).

– Số phận lận đận của “bảo vật quốc gia” (Người đưa tin).

– Hang di tích sản xuất nhu yếu phẩm thành chuồng nuôi dê! (SGTT).

– Phim “Huyền sử thiên đô” làm sai lệch lịch sử? (VH).

– Cung Trí thức vắng… trí thức (Thanh niên).

– Thú đi ‘săn’ sách cũ tại Hà Nội  —  (Người Việt).

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

– SINH VIÊN CHỈ NÊN TIN THẦY MỘT NỬA (Hồ Như Hiển/PNVN).

– Một nỗi nhục của Giáo dục … (Phạm Anh Tuấn).  – Trắng đêm xin học là do lỗi của…người dân (Tổ quốc). =>

– Thái Nguyên: Sai sót trong ghi số báo danh môn thi vật lý (Tuổi trẻ).

– Số đo vòng ngực liên quan gì nghề giáo? (Tuổi trẻ).

– Hiểm họa từ các nhà máy điện chạy than (SGGP).

– GS. TSKH Hoàng Xuân Phú: Mạn đàm về điện hạt nhân (Lê Dũng).

– Đáy đại dương : trữ lượng lớn về đất hiếm  —  (RFI).

– GS Ngô Bảo Châu “truyền lửa” cho người yêu Toán (VNN).

– Sai sót đề thi vào lớp 10 ở Khánh Hòa: Đề thi nhầm, phát hiện người ra đề cũng chấm thi (Dân Việt).

– Khói “lạ” bao phủ thành phố Hà Nội là loại khói gì? (TTXVN).

16h5′:

– Kết thúc đợt 1 kỳ thi tuyển sinh ĐH: Xuất hiện nhiều sai sót chưa từng thấy (TT&VH).  – Lãnh đạo Bộ GD-ĐT nói gì về những “sự cố” thi ĐH đợt 1 (Dân trí).

– Trắng đêm xin học mầm non: Sẽ xử lý nghiêm, nếu phát hiện sai phạm (Lao động).  – 4 năm nữa, hết chầu chực trắng đêm xin học (VNN).

– Công an vào cuộc vụ giảng viên gạ tình (Tuổi trẻ).

20h00′:

– Trần Hữu Dũng: Trí thức Việt Nam ở nước ngoài và đại học Việt Nam (Tia sáng).

– Viện hàn lâm danh tiếng Pháp bầu viện sĩ Phan Huy Lê (Bee).

– Có cần phải như thế không? (Tuổi trẻ) “Có bao giờ chúng ta giật mình tự hỏi: Có cần phải như thế không? Có nước nào làm như thế không? Một kỳ thi tổ chức căng thẳng, tốn kém như thế có tìm được đúng người có khả năng không? Có làm cho chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta cao hơn hẳn các nước khác không?”.

– Giật mình với cách dạy của một lớp “học kỳ quân đội” (Petrotimes).

– Nhật Bản sẽ trắc nghiệm độ an toàn của tất cả các lò phản ứng hạt nhân   —  (RFI).

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

– Cán bộ xã, huyện rao bán “thần dược” (NLĐ). =>

– Đổ xô đi lấy bùn phun (Thanh niên).

– Hải Dương thu 15kg ngà voi vận chuyển trái phép (TTXVN).

– BAO GIỜ SÀI GÒN HẾT NGẬP? – BÀI 2: Ngập vì… số liệu lạc hậu! (PLTP).

– Lại sập mỏ đá, 1 người chết, 7 người bị thương nặng (SGTT).

– Quen người qua mạng, hậu họa khôn lường (VNN).

– Chi dịch vụ môi trường để giữ rừng (TTCT).

– Peter Boshard (Thời báo Phnom Penh): Những bài học nhãn tiền từ đập Tam Hiệp (TVN).

16h5′:

– Sau đổ vỡ của ngành y sẽ đến ngành nào? (SGTT).

– Nhau thai khô mua dễ như mua rau (SGTT).

– Tàu đi qua, chất thải ở lại (Thanh niên).

– Hơn 74.000 người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (CAND).

– Đẻ rơi ở nhà tạm giữ: CA Hà Nội yêu cầu CA Đông Anh báo cáo sự việc (GDVN).

20h00′:

– Bùi Tiến Dũng lãnh thêm 7 năm tù (NLĐ).

– Bệnh tay chân miệng và sốt xuất huyết tăng cao (Thanh niên).  – TP.HCM: Dịch bệnh “rủ nhau” bùng phát (SGTT).

– Sẽ có chế độ cho người dân chống tội phạm? (PLVN).

QUỐC TẾ

– Libya : Pháp thông báo ngưng thả dù vũ khí  —  (RFI).  – Nga-NATO vẫn đồng sàng dị mộng (PLTP).

<=- Tại Hama, dân Syria tuyên bố tử thủ chống lại quân đội chính phủ  —  (RFI)

– Thái Lan : dấn thân chính trị để làm tròn bổn phận gia đình  —  (RFI).  – Tổng thư ký LHQ tán dương cuộc bầu cử ở Thái Lan  —  (VOA).

– Cam Bốt hy vọng tân chính phủ Thái Lan sẽ ôn hòa trên hồ sơ biên giới  —  (RFI).

– Seoul khó chịu vì châu Âu trợ giúp lương thực cho Bình Nhưỡng   —  (RFI).

– Nổ bom ở thủ đô Iraq giết chết 35 người   —  (VOA).

– NATO đề xuất LHQ đứng đầu đảm bảo an ninh ở Libya (VOV).

– Ít nhất 11 người thiệt mạng tại một thành phố đang sôi sục của Syria  —  (VOA).

– Yingluck Shinawatra – từ doanh gia trở thành thủ tướng  —  (RFA).  Kami: Việc tranh giành quyền lực ở Thái lan chưa thể chấm dứt sau bầu cử? (RFA’blog).

– Phó Thủ tướng Trung Quốc đi thăm Bắc Triều Tiên  —  (VOA).

16h5′:

– 200 người chết thảm trên con tàu cháy giữa biển (VnMedia).

– Vì sao ngày càng nhiều người đánh bom Trung Quốc? (Đất Việt).

– Trung Quốc biến Belorussia thành bàn đạp của mình vào Châu Âu (Kichbu/belaruspartisan.org và newsland.ru).

20h00′:

– Quân nổi dậy Libya tấn công cửa ngõ vào Tripoli (TTXVN).

– Trung Quốc – Triều Tiên: Bạn bè là như thế đó! (Petrotimes/Economist).

– TQ lập đội máy bay đặc biệt đối trọng với Mỹ (VNN).

* VTV1: + Chào buổi sáng – 05/07/2011 + Tài chính kinh doanh sáng – 05/07/2011.

* RFA: + Sáng 05-07-11; + Tối 05-07-2011.

* RFI:  05-07-2011

Posted in Điểm tin ngày Ba Sàm | Leave a Comment »

157. HIỆN TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

HIỆN TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Bảy, ngày 02/07/2011

(Đài Ôxtrâylia 27/6)

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, tỉ lệ lạm phát trong tháng 6 vừa qua đã lên đến 21% khiến Việt Nam trở thành một trong năm nước có tỉ lệ lạm phát cao nhất thế giới hiện nay.

Sau thời kỳ siêu lạm phát vào những năm 1980, cách đây hơn hai năm (2008) người ta lại chứng kiến lạm phát tại Việt Nam tăng lên đến 28%. Chuyên gia kinh tế Adam McCarty, trưởng nhóm chuyên gia kinh tế của Công ty Tư vấn Mekong Econnomics, cho rằng lạm phát 2011 cũng sẽ tăng lên mức đỉnh điểm 25%.

 

Hiện nay, cả đất nước và người dân Việt Nam đang phải đương đầu với lạm phát không ngừng leo thang. Giá lương thực, thực phẩm trong những tháng qua đã tăng một cách chóng mặt.

Giáo sư Adam Fforde thuộc Trung tâm Kinh tế Chiến lược, Đại học Victoria (Ôxtrâylia), cho biết lạm phát bắt nguồn từ việc nới lỏng tín dụng khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 và những can thiệp của chính phủ vào hoạt động của Ngân hàng nhà nước càng làm cho tình hình xấu đi. ông Fforde nói: “Tôi cho rằng những can thiệp chính trị như thế sẽ tiếp tục tồn tại, trừ phi Việt Nam có một người lãnh đạo có đủ tầm để hoạch định chiến lược cho cả nước hoặc có sự thay đổi trong hệ thống chính trị và bộ máy chính phủ có quyền lực thực sự”.

Bên cạnh đó, mức lãi suất của Việt Nam cũng rất cao. Trong một đánh giá mới đây nhất của mình, Ngân hàng Thế giới cho biết nền kinh tế Việt Nam đã mất đi sự tín nhiệm của người dân. Nguyên nhân là do những chính sách thiếu đồng bộ và nửa vời cũng như chính phủ chủ yếu chú trọng vào việc tăng trưởng kinh tế hơn là kiềm chế lạm phát. Mặc dù vậy, ông Adam McCarty cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP 6% như hiện nay là vẫn còn thấp. “Việt Nam đáng lý phải tăng trưởn với tốc độ 10%/năm như Ấn Độ hiện nay. Vì thế, tôi nghĩ Việt Nam vẫn còn những bất cập về cơ cấu cần được giải quyết để tăng năng suất lao động và thúc đẩy sự phát triển”.

Trong bối cảnh giá lương thực, thực phẩm, điện, nước và nhiên liệu vẫn không ngừng tăng, ngày càng có nhiều công nhân Việt Nam đình công đòi tăng lương. Sau những nỗ lực điều đình, lương của một số công nhân có tay nghề đã được tăng. Mặc dù vậy, do lạm phát tăng cao, sự tăng lương của họ là không đáng kể, thậm chí thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí của họ còn bị giảm xuống so với trước đây. Bên cạnh đó, vẫn còn một số lớn những người lao động không được tăng lương. Ông McCarty cho biết: “Một phần trong số đó là người lao động trong ngành nông nghiệp và những người đang làm việc trong các xí nghiệp. Vì vậy, trong hơn một năm qua, họ đình công nhiều hơn để đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình mình”.

Thiếu giải pháp đồng bộ, hiệu quả

Ông McCarty cho biết Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các giải pháp để kiềm chế lạm phát, trong đó chính sách siết chặt tín dụng đã phát huy một phần tác dụng. Tuy nhiên, một số biện pháp khác lại gây thiệt hại cho nên kinh tế hơn là phát huy hiệu quả. Ông nói: “Điển hình là các nhà hoạch định chính sách đã đánh giá chưa đúng mức tình trạng bấp bênh của các doanh nghiệp do những thay đổi thường xuyên trong các điều luật quản lý doanh nghiệp nhỏ gây ra. Họ đã đề ra thêm nhiều văn bản pháp lý nhằm hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng để tiến tới cân bằng cán cân thương mại. Tuy nhiên, điều này lại gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu”.

Trước câu hỏi về tính hiệu quả của các khoản đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước, ông McCarty cho biết trong những năm qua, Việt Nam vẫn chưa giải quyết được bài toán này và đó chính là gốc rễ gây ra sự trì trệ kinh tế. Chính phủ cũng đã đưa ra hàng loạt các chính sách, biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát nhưng sau đó lại nới lỏng tín dụng và tiếp tục cho các doanh nghiệp nhà nước vay tiền và điều này gây ra sự thiếu đồng bộ trong chính sách.

Giáo sư Fforde thì cho rằng sự đình công của công nhân không phải là một mối đe doạ với chính quyền nhưng nó cũng cho thấy sự cần thiết phải có sự thay đổi về mặt chính trị. Tuy nhiên, ông tỏ ra khá bi quan về vấn đề này trong tương lai gần.

***

(Đài RFI 13/6)

Ngoài hiểm hoạ Trung Quốc lấn chiếm lãnh hải trên Biển Đông, Việt Nam còn đang phải đối đầu với một cuộc xâm lăng khác về mặt kinh tế, thể hiện qua con số nhập từ Trung Quốc ngày càng lớn và tình trạng hàng hoá Trung Quốc, trong đó có nhiều hàng độc hại, đang tràn ngập thị trường Việt Nam.

Trung Quốc hiện nay đã trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, vượt qua cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhập siêu của Việt Nam và Trung Quốc đã tăng liên tục kể từ khi hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc có hiệu lực ngày 1/72005. Nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây, từ mức 2,67 tỷ USD năm 2005 vọt lên tới 12,7 tỷ USD năm 2010, tức là tăng gấp gần 5 lần!

Theo các số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, trong 5 tháng đầu năm nay, mức thâm hụt mậu dịch, tức là nhập siêu, của Việt Nam đã lên tới khoảng 6,5 tỷ USD và trong đó phần lớn vẫn là nhập siêu từ Trung Quốc. Nói chung, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc hiện là lớn nhất.

Cho đến nay, Việt Nam xuất sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu thô, khoáng sản, nông lâm thuỷ sản, trong khi Trung Quốc bán sang Việt Nam chủ yếu là phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, phụ tùng, hàng chế biến theo nguyên liệu như vải, chất dẻo… để Việt Nam chế biến hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.

Trả lời phỏng vấn RFI, ông Nguyễn Trần Bạt, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư cho rằng nhập siêu từ Trung Quốc là vấn đề rất nan giải và đang gây rất nhiều khó khăn cho ngành sản xuất của Việt Nam.

Theo phân tích của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP) thuộc Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, “chính sách thương mại và công nghiệp của Việt Nam chưa phát huy được tác dụng trước làn sóng hàng Trung Quốc đa dạng và giá rẻ. Việt Nam cũng thiếu vắng những hàng rào kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc. Không những thế, Trung Quốc lại biết tận dụng lợi thế của các thoả thuận thương mại khu vực”.

Ngược lại, theo VERP, “hàng hoá của Việt Nam có khả năng cạnh tranh kém cả về giá cả và chất lượng nên khó thâm nhập thị trường Trung Quốc. Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sáng Trung Quốc là khoáng sản và nông lâm thuỷ sản với số lượng nhỏ, giá cả bấp bênh”.

Để giải bài toán nhập siêu từ Trung Quốc, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, giám đốc VERP cho rằng, “cần có các giải pháp đồng bộ, không chỉ về chính sách thương mại mà cả về chính sách đầu tư, chính sách công nghiệp trong cơ chế chọn nhà thầu khoán”. Nhưng nói thì dễ, theo ông Nguyễn Đức Thành, “đây hoàn toàn không phải là điều đơn giản trước sự hiện hữu ngày càng lớn của kinh tế Trung Quốc trên toàn thế giới”.

Bên cạnh tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc, một vấn đề còn nghiêm trọng hơn cả đó là sự tràn ngập hàng hoá Trung Quốc trên khắp Việt Nam. Tờ Sài Gòn Giải Phóng Online vừa qua đã có bài báo động về tình trạng hàng giá rẻ kém chất lượng, vừa độc hại của Trung Quốc đang tràn ngập thị trường Việt Nam, như đồ chơi trẻ em có nồng độ chì vượt mức cho phép, điện thoại iPhone made in China mới dùng có hai tuần sóng đã chập chờn, tiếng lúc được lúc mất, radio sau một tháng tiếng phát ra như người bị nghẹt mũi.

Nguy hiểm hơn cả là nhiều thực phẩm ở Việt nam hiện nay dùng các chất phẩm màu gây ung thư có nguồn gốc từ Trung Quốc, chưa kể sữa nhiễm melamine, trứng gà, gia vị lẩu, tương ớt có nguy cơ gây ngộ độc hoặc ung thư. Ngay cả chăn đệm, quần áo Trung Quốc cũng đe doạ sức khỏe con người vì có chất phoócmađêhít gây hại cho da. Rồi còn phải kể đến trà trân châu bằng polymer, trứng gà giả. Đồ trang sức “Made in China” cũng kinh khủng không kém. Mới đây lại có thông tin về ly cốc thuỷ tinh của Trung Quốc bị nhiễm độc chì nhưng vẫn được ồ ạt nhập vào bán ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Khôi hài hơn nữa là chuyện taxi đang chạy bị rơi hai bánh xảy ra ngày 7/6 vừa qua tại thành phố Huế. Thì ra đó là một chiếc xe do hãng Lifan của Trung Quốc sản xuất!

Trước sự độc hại của nhiều mặt hàng Trung Quốc, một số người tiêu dùng ở Việt Nam, nhất là những người có mức thu nhập từ trung bình trở lên, đã bắt đầu tẩy chay rau quả Trung Quốc, chuyển sang mua rau quả nhập từ Mỹ, Ôxtrâylia hay Niu Dilân, an toàn hơn. Ngay cả những người thu nhập thấp cũng quay sang mua rau quả Việt Nam, ít ra còn bảo đảm là không bị nhiễm độc.

Những hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam trong những ngày qua đang làm dấy thêm phong trào tẩy chay hàng Trung Quốc, đẩy mạnh tinh thần “Người Việt dùng hàng Việt”. Nhưng nếu ngành công nghiệp Việt Nam không đủ sức tạo ra những hàng hoá vừa giá rẻ, vừa bảo đảm chất lượng, cạnh tranh được với hàng Trung Quốc, thì phong trào dùng hàng nội cũng chẳng đi đến đâu. Bên cạnh đó, nếu các nhà quản lý không đủ sức ngăn chặn những con đường nhập hàng ồ ạt qua biên giới phía Bắc, thì các sản phẩm độc hại của Trung Quốc tiếp tục đe doạ sức khoẻ của người dân Việt Nam.

***

(Đài BBC 20/6)

Nguyễn Hoàng trò chuyện với ông Dominic Scriven, Tổng Giám đóc Dragon Capital, về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.

– Xin chào ông, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là FDI chiếm một tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế Việt Nam, chắc hẳn các nhà đầu tư nước ngoài phải thấy ở Việt Nam có một điểm gì đó hấp dẫn?

+ Quả thực, vai trò của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là rất lớn, nếu tính theo GDP khi so với Trung Quốc và các nước khác. Đầu tư nước ngoài chia thành 2 phần, một phần lớn nhất là đầu tư trực tiếp còn gọi là FDI và FDI chủ yếu từ các tập đoàn đa quốc gai đến Việt nam để lập những cơ sở sản xuất. Một số điển hình là Tập đoàn Intel của Mỹ vừa khởi động nhà máy sản xuất lớn nhất của Intel trên thế giới. Mới đây, Tập đoàn Nokia lập nàh máy thứ 6 của họ trên toàn cầu tại Việt Nam… Lý do những nhà đầu tư này có mặt ở Việt Nam là vì cơ sở chi phí có thể cạnh tranh được, gồm có chi phí lao động và các chi phí khác. Dù có nhiều vật chất về hạ tầng cơ sở, suy cho cùng, hạ tầng cơ sở của Việt nam cũng tạm ổn, không cản trở những quá trình sản xuất của họ. Còn có một loại đầu tư nước ngoài thứ hai, cũng gọi là đầu tư trực tiếp tại Việt Nam vào thị trường trong nước, thị trường tiêu dùng, thị trường bán lẻ. Còn có loại đầu tư nước ngoài thứ ba, đó là đầu tư gián tiếp hay là đầu tư tài chính, thông thường là dạng đầu tư nước ngoài đến sau, mới phát triển mấy năm nay.

– Ở đây có những nhà đầu tư dài hạn và những nhà đầu tư ngắn hạn. Ông có lời khuyên nào dành cho nhà đầu tư dài hạn và nhà đầu tư ngắn hạn?

+ Phải nói thật, đầu tư ngắn hạn tại Việt Nam là không nên, cũng giống như các thị trường mới nổi khác thì bài toán đầu tư phải là bài toán dài hạn. Vì sao thế? Là vì sự phát lâu dài cho một nền kinh tế như Việt Nam là khá ấn tượng. Nhưng vì cơ cấu thể chế và các công cụ điều hành kinh tế, kể cả cách phát triển của xã hội khó có thể dự báo nên dễ có những biến động trong thời gian đó. Vì thế, đầu tư tại Việt Nam nên có một tầm nhìn dài hạn. Nhưng phải nói rằng đây là thời điểm tốt để đầu tư, nếu đã đầu tư rồi thì đây là thời điểm nên kiên nhẫn và bình tĩnh để qua chu kỳ khó khăn này, vì chắc chắn nó sẽ khởi sắc trở lại.

– Chắc hẳn ông đã có dịp gặp các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam trong quá trình tiếp xúc khi hội thảo, khi ngồi nói chuyện bàn thảo với họ về mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, những hướng đi của nền kinh tế. Ông có nhận xét gì về giới lãnh đạo của Việt Nam, những mong muốn tầm nhìn của họ như thế nào ở trong khu vực?

+ Tôi có gặp một số vị lãnh đạo, tôi thấy có một điều tương đối bất ngờ là vai trò của “thành phần nước ngoài” lớn. Trong sản xuất công nghiệp của Việt Nam hiện nay, thành phần các doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài chiếm phần lớn nhất, đồng thời là thành phần tăng trưởng nhanh nhất. Rõ ràng đây là đầu tư trực tiếp, kể cả trong lĩnh vực kinh doanh của mình, tôi có thể khẳng định rằng Việt Nam khá cởi mở đối với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt so với một số nước khác như Trung Quốc chẳng hạn.

– Ông đã sống ở Việt Nam 20 năm, có những lý do gì khiến ông chọn Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đặt trụ sở kinh doanh của mình, hay vì ông dự đoán được ở đó có thị trường chứng khoán trước?

+ Đúng như anh nói, năm nay là năm thứ 20 tôi ở Việt nam và nơi tôi đặt chân đến đầu tiên là thủ đô Hà Nội. Tôi đăng ký học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 2 năm. Tuy nhiên, khi học xong, tạii Hà Nội không có nhiều công việc, nên khi có một cơ hội ở trong Nam, tôi đã vào đó đến bây giờ. Đúng như anh nói, trụ sở của tôi ở trong Nam. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi không kinh doanh tại Hà Nội, tôi cũng thấy nhiều người gốc Bắc vào lập nghiệp trong Nam cho nên cũng không phải chỉ một mình tôi đi theo hướng đó.

***

(Đài RFA 21 và 28/6)

Chỉ còn chưa đến 10 năm tính đến thời điểm Việt Nam phải trở thành nước công nghiệp hoá, tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn còn là một vấn đề gai góc, nhất là khi lượng vốn đầu tư cho lĩnh vực này rất cao, khả năng thu hồi vốn chậm.

Vì lý do nêu trên nên việc Chính phủ huy động đầu tư từ khối ngành tư nhân trong nước và nước ngoài là điều hết sức cần thiết. Nhưng mô hình kết hợp công tư này có điểm gì đặc biệt?

Mô hình đối tác công tư (PPP)

Mô hình đối tác công tư là hình thức đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ sở gồm 9 lĩnh vực trọng yếu như đường bội, giao thông đô thị, cảng hàng không, cảng biển, hệ thống nước sạch, nhà máy điện, môi trường, y tế… với việc tham gia đầu tư của nhà nước không quá 30% vào dự án, phần còn lại là của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, khu vực tư nhân ở đây phải được hiểu theo nghĩa là của cả nhà đầu tư trong nước lẫn ngoài nước.

Tại Việt Nam, cần có sự góp vốn đầu tư của tư nhân vào những dự án mà khả năng thu hút vốn đầu tư không hấp dẫn, thời gian và khả năng thu hồi vốn lâu, trong khi những công trình này nhà nước cần phải đầu tư ngay, nhằm phát triển kinh tế xã hội cho cả vùng hay một khu vực.

Ông Nguyễn Văn Bảo, Phó Vụ trưởng Vụ Kết cấu Hạ tầng Cơ sở (Bộ Kế hoạch Đầu tư) cho biết: “PPP là một chương trình mà khung pháp lý hiện nay đang thí điểm chứ chưa hoàn thiện, mục tiêu của Chính phủ nghiên cứu là để hợp tác công tư. Nhà nước bỏ ra tuỳ theo từng dự án, nhưng tối đa chỉ là 30% tổng vốn đầu tư, còn lại phải đề nghị các nhà đầu tư mà chủ yếu là ở nước ngoài trực tiếp bỏ vốn vào cũng nhau thực hiện dự án”.

Ông Bảo cũng giải thích thêm về bản chất thì mô hình PPP dựa trên hình thức BOT: xây dựng, vận hành, chuyển giao hoặc BT: xây dựng, chuyển giao do nhà đầu tư đầu tư 100% vốn xây dựng rồi sau khi hết thời gian thu hồi vốn và lãi, sẽ chuyển lại cho nhà nước quản lý. Còn với hình thức PPP này, thì nhà nước và tư nhân cũng nhau chia sẻ mức vốn đầu tư cũng như những lợi ích, rủi ro và độ phức tạp từ dự án.

Còn chập chững

Ở các nước trên thế giới thì hình thức đối tác công tư PPP này không phải là mới mẻ, mà đã có khoảng 50 năm nay, nhưng ở Việt Nam thì mới đang ở những bước đi chập chững đầu tiên và mới chỉ dừng lại ở các mô hình thí điểm, như dự án đầu tiên là đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết đang được giao cho Bộ Kế hoạch Đầu tư thực hiện. Câu hỏi đặt ra là tại sao khối ngành tư nhân trong và ngoài nước lại muốn tham gia những dự án hạ tầng đòi hỏi vốn lớn và thời gain thu hồi chậm như vậy. Trả lời câu hỏi này, một chuyên gia thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư chia sẻ: “Nhà đầu tư là nhà thầu tự thi công, bởi vì trong thi công đã có phần lãi trong đó. Cái lợi mà nhà đầu tư có thể thu được ngoài những kỳ vọng vào việc thu phí cầu đường, cầu cảng… thì họ lại còn chính là nhà thi công, mà điểm này mới là quan trọng. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, áp dụng hình thức PPP sẽ giải quyết được nhiều bài toán về ùn tắc giao thông, tạo việc làm cho người lao động tại địa phương…”

Lợi ích và rào cản

Tác động tích cực nhất của Quy chế thí điểm PPP sẽ là mở ra cơ hội, điều kiện huy động nguồn vốn của khu vực tư nhân và nước ngoài vào việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, đồng thời tận dụng được năng lực, kỹ thuật và kinh nghiệm của các nhà đầu tư. Tuy thế, cũng giống nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thức PPP này hiện cũng đang vấn phải một vấn đề rào cản khi thực thi là làm sao quản lý nguồn vốn này. Vị chuyên gia này cho biết tiếp: “Rào cản thực thi PPP là việc quản lý nguồn vốn đầu tư vào dự án đó, ai đứng ra quản lý và quản lý như thế nào, đầu tư ra sao là vấn đề cơ bản nhất”.

Ngoài rào cản về quản lý nguồn vốn, hiện nay còn có những rào cản khác là những dự án cần kêu gọi đầu tư hiện chưa được lập và phân tích một cách cụ thể. Tất cả mới chỉ dừng lại trên con số chung chung 30% và 70%. Vì thế, nhiều dự án chưa biết sẽ mang lại hiệu quả hài hoà ra sao cho nhà đầu từ và cho Chính phủ. Khi các dự án khó thực hiện, với mức thu hồi thấp, thì nhà nước cần có chính sách cởi mở hơn nữa, không quy định cứng nhắc bao nhiêu phần trăm. Vì trước đây, kết cấu hạ tầng nhà nước phải bỏ ra 100%, nếu ta có thể huy động 50%, nhà nước bỏ ra 50% là điều chấp nhậnd dược. Học tập kinh nghiệm của Malaixia, có những dự án nhà nước bỏ ra 70%, tư nhân bỏ ra 30%, một công trình tính ra 90 năm mới thu hồi vốn, nhà đầu tư thu hồi vốn trước trong vòng 30 năm, rồi bàn giao lại cho chính phủ. Bên cạnh đó, cơ chế pháp lý liên quan đến công tác đấu thầu các dự án đầu tư vẫn là việc cần phải bàn đến. Vị chuyên gia nói thêm: “Vấn đề thứ hai là chuyện đấu thầu giữa các nhà đầu tư để tham gia hình thức PPP, phần đấu thầu hiện nay cũng gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vì một nàh đầu tư khi tham gia đầu tư họ phải chuẩn bị khá lâu, thậm chí có những dự án 5 năm. Nhưng hiện nay khung pháp lý của Việt Nam, chính xác mà nói thì vẫn căn cứ theo Nghị định 78 là cơ sở pháp lý duy nhất vì đó là nghị định chứ còn Quyết định 71 thì chỉ là quyết định của Thủ tướng mà thôi”.

Nhà nước cần làm gì?

Vậy để PPP trở thành một kênh thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân hiệu quả hơn nữa, phía Chính phủ cần phải làm gì? Theo nhiều chuyên gia kinh tế thì hiện tại việc tính toán hiệu quả đầu tư, để từ đó phân chia hài hoà lợi ích giữa Chính phủ và nhà đầu tư vẫn là một trở ngại. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần có những hình thức hỗ trợ thêm về thuế, quy đổi ngoại tệ… Vì thế cần phải có một đội ngũ chuyên gia tính toán như thế nào cho chính xác và từ đó kêu gọi đầu tư, rồi có những cơ chế về thuế, nguồn thu, quy đổi ngoại tệ.

Có thể nói, để thu hút được thêm mọi nguồn vốn đầu tư từ cả trong nước lẫn nước ngoài, nhất là cho những dự án cơ sở hạ tầng lớn, thì hình thức mới PPP được xem là một trong những giải pháp và bước đi được tập trung mạnh trong thời gian tới.

Tuy vậy, để mô hình thí điểm đó trở thành thực tế lại là cả một bước dài thực hiện. Bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế độc lập nhận xét: “Trước đây, gần như truyền thống của Việt Nam là chỉ có nhà nước thực hiện phát triển cơ cấu hạ tầng nên PPP cũng là ý tưởng mới của nhà nước. Tuy nhiên điều này cần phải làm một cách nhanh chóng hơn nữa, chứ còn chỉ thí điểm trong một vài trường hợp, rồi phải chờ rất lâu sau mới mở rộng thì có lẽ khó đạt được yêu cầu phát triển của Việt Nam hiện nay”.

Có lẽ kết luận của bà Phạm Chi Lan cũng là mong muốn của nhiều người dân ở những nơi mà học sinh còn phải trèo qua những câu cầu khỉ đi học, trẻ nhỏ còn phải băng qua hàng chục km đường đèo đến trường hay những nơi vùng sâu vùng xa chưa bao giờ nhìn thấy bóng đèn điện. Việc xây dựng nhanh chóng hạ tầng thiết yếu, phục vụ đời sống người dân là điều đang rất được mong chờ.

***

Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam phụ thuộc xuất khẩu dẫn đến phát triển xuất khẩu ồ ạt không bền vững. Chính phủ đã nhận biết được điều đó nhưng việc chuyển đổi cơ cấu vẫn mãi dậm chân tại chỗ. Việt Nam trù liệu việc giảm tốc độ sau một thập niên phát triển xuất khẩu bằng mọi giá để đạt tăng trưởng kinh tế. Theo các số liệu chính thức, trong 10 năm đầu thế kỷ 21 mức tăng GDP bình quân của Việt Nam là gần 8% và tăng xuất khẩu gần 19%.

Xuất khẩu nguyên liệu thôi chiếm 70%

Tiến sĩ (Ts) Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập từ Hà Nội nhận định: “Hiện nay xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ và xuất khẩu trong 10 năm gần đây không thay đổi được nhiều. Xuất khẩu tới 70% là các sản phẩm thô là dầu thô, than đá, cao su, các khoáng sản, nông sản như gạo, cà phê nâhn, hồ tiêu… còn sản phẩm công nghiệp như dệt may thì trong đó phần lớn nguyên liệu dệt may phải nhập từ Trung Quốc. Tức là xuất khẩu chậm chuyển biến, chậm tiến lên một nền xuất khẩu dựa vào công nghệ cao và dựa vào giá trị gia tăng cao hơn”.

Cao su là nông sản đạt kim ngạch xuất khẩu 2,3 tỷ USD vào năm 2010. Một trong các thí dụ điển hình được đề cập là Việt Nam xuất khẩu mủ cao su tự nhiên rất nhiều nhưng lại phải nhập lốp xe cũng như hầu hết sản phẩm cao su. Ts. Trần thị Thuý Hoa, Tổng thư ký Hiệp hội cao su Việt Nam nhận định: “Ngành cao su xuất khẩu nguyên liệu thô chiếm 80%. Sản phẩm cao su trong đó có lốp xe vẫn còn ít, chúng tôi cũng nhận thấy phát triển như vậy chưa bền vững cho nên sắp tới phải đẩy mạnh các sản phẩm cao su xuất khẩu và giảm bớt xuất khẩu nguyên liệu thô. Đấy là xu hướng của ngành cao su trong tương lai. Chúng tôi cố gắng giảm xuất khẩu thô từ 80%-85% xuống còn 70%, để dành nguyên liệu cho sản xuất trong nước”.

Ts. Đinh Văn Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại Bộ Công thương xác nhận với báo chí là trong giai đoạn 2011-2020, nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 7,5% đến 8% nhưng tăng trưởng xuất khẩu sẽ chỉ gâp 1,5 lần thay vì hơn 2 lần như giai đoạn trước. Việc giảm tốc độ xuất khẩu khá lớn đòi hỏi phải tái cấu trúc cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu.

Trả lời chúng tôi, Ts. Lê Đăng Doanh bày tỏ e ngại nếu không có hành động kịp thời, một số ngành hàng xuất khẩu qua gia công sẽ gặp nhiều khó khăn. Ông nói: “Cần thấy là trong những năm gần đây lạm phát tăng lên, Việt Nam đã phải điều chỉnh tỷ giá đồng tiền, tăng giá xăng dầu, tăng tiền lương. Nếu như xu hướng này tiếp tục, thì ngành dệt may Việt Nam trong vòng 5 năm nữa, theo sự tính toán của cá nhân tôi, sẽ mất khả năng cạnh tranh với những sản phẩm của Bănglađét hay của Inđônêxia vì giá dệt may trên thị trường thế giới mang tính cạnh tranh. Trong khi đó, ở trong nước những yếu tố đầu voà của ngành dệt may liên tục tăng lên, điện tăng, xăng dầu tăng, tiền lương tăng lên, cước phí vận tải tăng lên và do phá giá đồng tiền cho nên các sản phẩm nhập khẩu chiếm đến 70-75%. Giá thành hàng dệt may xuất khẩu từ Việt Nam cũng tăng lên và lúc bấy giờ hàng dệt may Việt Nam không thể còn năng lực cạnh tranh với các sản phẩm của Inđônêxia và Bănglađét. Đó là một trong những điều hết sức đáng lo ngại”.

Chính sách nội địa hoá chưa thực sự phát huy

Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Da giày Việt Nam đồng thời là Phó chủ tịch Hội Dệt may thêu đan thành phố Hồ Chí Minh, nhận định là chính phủ có những chủ trương tốt nhưng khi thực hiện thì không mang lại hiệu quả: “Chúng tôi cho rằng chính sách nội địa từ công nghiệp lắp ráp rồi sản xuất da giày, dệt may… và nhiều ngành khác nữa chính là để giúp giảm nhập siêu. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua cả doanh nghiệp lẫn chính phủ đều đánh giá là những chính sách đó chưa thực sự phát huy tác dụng. Do đó, vẫn tiếp tục nhập khẩu và tình trạng nhập siêu tiếp tục xảy ra. Trong khoảng thời gian 1 năm trở lại đây chính phủ đã quyết liệt hơn trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hoá”.

Về nông sản, mục tiêu giảm xuất khẩu thô để gia tăng các sản phẩm chế biến là một vấn đề nan giải vì cần xây dựng thương hiệu, vốn đầu tư lớn và thời gian chuẩn bị cho công nghệ. Có một vài sự tiến triển ở ngành cà phê nhưng chậm và sản lượng cà phê qua chế biến là không đáng kể, có chuyên gia nói rằng 15 năm nữa cà phê Việt Nam sẽ vẫn cứ xuất nguyên liệu thô là chủ yếu.

Đối với ngành cao su, Ts. Trần thị Thuý Hoa nhận định: “Chỉ tiêu đặt ra tới năm 2015-2020 tiến đội vẫn chậm. Để cho khả thi, một mặt các doanh nghiệp trong nước nên tìm các sản phẩm thích hợp và thị trường thích hợp đối với các sản phẩm cao su. Ngoài ra chính phủ nên tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài. Để rút nhanh thời gian, nếu nước ngoài đầu tư vào sản phẩm cao su thì cần ưu tiên, ưu đãi để nâng lượng sản phẩm cao su lên, giảm xuất khẩu nguyên liệu thô”.

Việt Nam đang đứng trước các câu hỏi hóc búa, bắt nguồn từ tình trạng xuất khẩu nhiều mà không hiệu quả, tạo ra tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại kéo dài. Hàng công nghiệp thì phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào, trong khi khoáng sản, nông sản xuất khẩu thô thì ít giá trị gia tăng. Nếu giảm tốc độ xuất khẩu nhanh thì hàng triệu người lao động mất việc làm dẫn tới bất ổn xã hội. Điều cần làm, theo các chuyên gia, là phải tái cơ cấu xuất nhập khẩu hay rộng hơn nữa là tái cơ cấu nền kinh tế. Nếu bây giờ chưa bắt đầu thì biết đến khi nào mới tới đích./.

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »