Em Ba Sàm

162. THẾ HỆ LÃNH ĐẠO MỚI CỦA TRUNG QUỐC SẼ CỨNG RẮN HƠN VỀ NGOẠI GIAO?

Posted by embasam1 on Tháng Bảy 7, 2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

THẾ HỆ LÃNH ĐẠO MỚI CỦA

TRUNG QUỐC SẼ CỨNG RẮN

HƠN VỀ NGOẠI GIAO?

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 04/07/2011

TTXVN (Hồng Công 30/6)

Tạp chí Tham khảo Nước ngoài số ra tháng 7 của Hồng Công đăng bài của nhà nghiên cứu Hồ Lầp cho rằng trong bối cảnh sức mạnh quốc gia của Trung Quốc đang tăng lên, địa vị quốc tế được nâng cao, sách lược ngoại giao “giấu mình chờ thời” đã không còn đủ khả năng để ứng phó với các mối quan hệ quốc tế của Trung Quốc. Dẫn lời của Giáo sư Vương Kiện Vĩ, Chủ nhiệm khoa Chính quyền và Hành chính thuộc Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Ma Cao, tác giả dự đoán lãnh đạo thế hệ thứ năm của Trung Quốc ngoài việc phải đề ra chiến lược phù hợp hơn với tình hình Trung Quốc, cũng phải xem xét tới việc làm thế nào đẻ phát huy sức ảnh hưởng của Trung Quốc trên trường quốc tế. Vì thế, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc có thể sẽ có sự điều chỉnh nhất định về chính sách ngoại giao. Với những gì diễn ra vừa qua có thể các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ có những biểu hiện cứng rắn hơn. Dưới đây là nội dụng bài viết:

Vấn đề mới cho các nhà lãnh đạo: Điều chỉnh sách lược ngoại giao như thế nào

Sách lược “giấu mình chờ thời” được Đặng Tiểu Bình đề ra sau sự kiện Thiên An Môn ngày 4/6/1989 đã giữ chủ đạo phương châm ngoại giao của Trung Quốc trong thời đại Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, giúp Trung Quốc có được môi trường hoà bình để phát triển kinh tế. Nhưng, trong bối cảnh tình hình thế giới thay đổi và thực lực của Trung Quốc tăng lên, thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc chắc chắn sẽ phải xem xét lại sách lược “giấu mình chờ thời”.

Giáo sư Vương Kiện Vĩ chỉ rõ: Sách lược “giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình đã giúp Trung Quốc thành công trong việc gia nhập cộng đồng quốc tế do phương Tây làm chủ đạo, đồng thời dọn đường cho Trung Quốc trỗi đậy nhanh chóng. Sách lược ngoại giao thời Hồ Cẩm Đào tuy có thêm một số khái niệm mới như “thế giới hài hoà”, nhưng về tổng thể, mang tính kế thừa nhiều hơn là thay đổi và ít có tính tạo lập về mặt lý luận.

Tuy nhiên, trong một số vấn đề cụ thể, Hồ Cẩm Đào vẫn có những nét khác so với thời Giang Trạch Dân. Ví dụ: Hồ Cẩm Đào đã tương đối thành công trong chính sách đối với Đài Loan, thay đổi được cách làm cứng rắn, muốn thành công nhanh, thiên về cái lợi gần và định rõ thời gian biểu trước đây; trong quan hệ với Nhật Bản, nếu thời Giang Trạch Dân nhấn mạnh nhiều hơn tới vấn đề lịch sử, thời Hồ Cẩm Đào lại nhấn mạnh nhiều hơn tới sự vỗ về, hướng về phía trước và không đặt hy vọng vào việc giáo huấn Nhật Bản. Ngoài ra, trong việc ứng phó với vấn đề Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải), Trung Quốc cũng đã thực thi các biện pháp khác nhau. Tất cả cho thấy đã có một số thay đổi xảy ra (trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc).

Cho dù về đại thể Hồ Cẩm Đào vẫn tuân thủ phương châm “giấu mình chờ thời”, nhưng sự trỗi dậy của Trung Quốc lại là một sự thực rõ ràng và qua sự miêu tả của phương Tây, ba luận thuyết về sách lược ngoại giao của Trung Quốc đã xuất hiện, gồm “thuyết Trung Quốc cứng rắn”, “thuyết Trung Quốc ngạo mạn” và “thuyết Trung Quốc tất thắng”. Liên quan tới vấn đề này, trong buổi họp báo thuộc kỳ họp thường niên của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc năm 2010, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh Trung Quốc kiên trì đi theo con đường phát triển hoà bình, sự phát triển của Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng tới bất cứ quốc gia nào, cho dù trở thành nước phát triển, Trung Quốc cũng vẫn không xưng bá.

Theo Giáo sư Vương Kiện Vĩ, ba luận thuyết nêu trên ngoài việc phục vụ cho mục đích tuyên tryền của phương Tây, cũng phản ánh thực tế là trong bối cảnh sức mạnh quốc gia của Trung Quốc đang tăng lên, địa vị quốc tế được nâng cao, Trung Quốc cần phải có tư tưởng chiến lược mới và khung lý luận mới về ngoại giao. Cục diện và môi trường mà Trung Quốc phải đối mặt dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào là quá khác nhau, nên việc Trung Quốc điều chỉnh sách lược ngoại giao thế nào là một vấn đề mới phải đối mặt. Ở Trung Quốc đã có nhiều cuộc thảo luận về việc Trung Quốc nên tiếp tục “giấu mình chờ thời” hay phải tích cực tiến tới, có thái độ cứng rắn, thay đổi luật chơi. Nhưng Hồ Cẩm Đào ngay lập tức đã ngăn lại, không cho phép có sự thay đổi quá lớn. Do đó, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sau Đại hội 18 sẽ phải đối mặt với vấn đề và thách thức này, vào thời gian thích hợp sẽ phải xem xét đưa ra hành động sao cho tương ứng với sức mạnh quốc gia của Trung Quốc.

“Giấu mình chờ thời” đã không còn hợp thời

Sự xuất hiện của ba luận thuyết trên đều có liên quan tới những động thái mạnh mẽ của Trung Quốc trong các vấn đề như Mỹ – Hàn diễn tập quân sự ở Hoàng Hải, biến đổi khí hậu, đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là Senkaku) cũng như việc Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng, thử nghiệm tiêu diệt vệ tinh bằng tên lửa… Có lẽ vì thế, Giáo sư Vương Kiện Vĩ đã thẳng thắn nói rằng lý luận và hành vi ngoại giao của Trung Quốc đang tách rời nhau, gây ra phản ứng mạnh mẽ từ thế giới bên ngoài. Sau khi phản ứng này dội tới Bắc Kinh, Trung Quốc sẽ phải xem xét lại những gì đã xảy ra và có sự điều chỉnh. Do đó, ngoại giao Trung Quốc hiện đang trong trạng thái “chưa thay đổi, nhưng sắp thay đổi”. Một số thay đổi cụ thể của Hồ Cẩm Đào về cách làm ngoại giao cho thấy chiến lược dưới thời của Tập Cận Bình sẽ là “kiên trì giấu mình chờ thời, tích cực đóng góp”, trong đó hai chữ “tích cực” thể hiện sự chuyển biến theo thời cuộc.

Sở dĩ Trung Quốc nhiều năm kiên trì “giấu mình chờ thời” là do Trung Quốc sẽ theo đuổi trỗi dậy hoà bình. Nhưng thế giới bên ngoài có lúc cho rằng việc Trung Quốc “giấu mình chờ thời” thực ra chỉ là kế sách tạm thời, thậm chí còn nói đó là “mối nguy hiểm tiềm tàng”. Theo Giáo sư Vương Kiện Vĩ, “giấu mình chờ thời” đã không có nhiều tác dụng tích cực đối với việc Trung Quốc tuyên bố thực thi chính sách ngoại giao hoà bình. Giáo sư Vương Kiện Vĩ cho rằng thực lực của một quốc gia sẽ quyết định chính sách của nước ấy. Khi Trung Quốc còn yếu, việc thực thi sách lược “giấu mình chờ thời” là lỗi thời. Có thể nói sách lược “giấu mình chờ thời” cơ bản đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó.

Vì vậy, nếu như sức mạnh quốc gia của Trung Quốc tiếp tục được tăng cường, sau khi lên nắm quyền, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ kkhông thể né tránh việc đưa ra quan niệm ngoại giao mới. Vì cùng với sự trỗi dậy, phạm vi lợi ích mà Trung Quốc theo đuổi sẽ không ngừng mở rộng và sẽ bao phủ toàn cầu. Nếu Tập Cận Bình giống như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào hoạt động trong khung (sách lược “giấu mình chờ thời”) của Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo này sẽ gặp nhiều khó khăn.

Nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc ngoài việc phải đề ra chiến lược phù hợp với tình hình Trung Quốc, cũng phải xem xét tới việc làm thế nào để phát huy sức ảnh hưởng của Trung Quốc trên trường quốc tế. Rốt cuộc, cùng với sự nâng lên về địa vị quốc tế của Trung Quốc, kỳ vọng của nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc đối với đất nước sẽ tăng theo, đồng thời những lời kêu gọi Trung Quốc gánh vác trách nhiệm quốc tế lớn hơn cũng sẽ không ngừng tăng lên.

Giáo sư Vương Kiện Vĩ cho biết so với 20 năm, 30 năm trước, sức mạnh quốc gia của Trung Quốc đã thay đổi hoàn toàn, nhưng ngoại giao của Trung Quốc lại dường như không trở nên chủ động hơn, ngược lại có ngày càng bị động và khó khăn. Do đó, việc Trung Quốc phải làm thế nào để chuyển hoá sức mạnh quốc gia ngày càng tăng thành sức ảnh hưởng về ngoại giao, quyền phát ngôn trong quan hệ với thế giới và năng lực hình thành luật chơi quốc tế, là vấn đề cần phải suy nghĩ.

Giáo sư Vương Kiện Vĩ dự đoán sau khi lên nắm quyền, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc có thể sẽ có sự điều chỉnh nhất định về chính sách ngoại giao. Điều chỉnh này sẽ như thế nào? Xem xét những gì diễn ra vừa qua, có thể nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ có những biểu hiện cứng rắn hơn, thái độ của nhà lãnh đạo mới đối với các vấn đề như phương Tây can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia của Trung Quốc sẽ rõ ràng hơn so với thế hệ lãnh đạo của Hồ Cẩm Đào.

***

Trang web của tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 28/6 đăng bài của nhà phân tích độc lập Trung Quốc Chu Tuệ Lai cho biết mấy năm trở lại đây, đặc biệt kể từ khi tranh chấp chủ quyền lãnh thổ biển với hạt nhân là vấn đề Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) không ngừng nóng lên, người ta cũng không ngừng tranh cãi về ngoại giao “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc. Trong cộng đồng quốc tế, ngày càng có nhiều người cho rằng trên thực tế Trung Quốc đã từ bỏ nguyên tắc ngoại giao này và bước vào thời đại ngoại giao hậu “giấu mình chờ thời”. Nhưng ở Trung Quốc, các cuộc tranh luận rằng có nên tiếp tục “giấu mình chờ thời” hay “phải có hành động” vẫn liên tục diễn ra. Thực tế này phản ánh việc Trung Quốc đang phải đối mặt với sự đấu tranh ngày một quyết liệt giữa một bên là trỗi dậy hoà bình và bên kia là bảo vệ lợi ích quốc gia. Việc xử lý mối quan hệ này thế nào trước tiên phải xem xét toàn diện ngoại giao “giấu mình chờ thời”.

Nội hàm hoàn chỉnh của ngoại giao “giấu mình chờ thời”

“Giấu mình chờ thời” được Đặng Tiểu Bình đưa ra vào những năm 1990 nhằm đối phó với tình hình quốc tế. Đứng trước tình hình bất ổn xuất hiện khi Đông Âu diễn ra sự thay đổi lớn, phe xã hội chủ nghĩa tan rã, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra phương châm “bình tĩnh quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời”. Khi đưa ra tư tưởng này, Đặng Tiểu Bình còn nhấn mạnh “quyết không đi đầu”. Trên thực tế, hàm nghĩa chính sách cụ thể của “giấu mình chờ thời” chính là “quyết không đi đầu”, không ham hố địa vị lãnh tụ phe xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô để lại.

Do Liên Xô tranh giành địa vị bá chủ với Mỹ và xây dựng phe xã hội chủ nghĩa đối lập với các nước phát triển Âu – Mỹ (sau đó rơi vào thảm cảnh), nên nội hàm cốt lõi của ngoại giao “giấu mình chờ thời” do Đặng Tiểu Bình đưa ra được thể hiện trên hai phương diện: Không thách thức bá quyền Mỹ và không thách thức hệ thống quốc tế. Lâu nay, cộng đồng quốc tế và trong nước Trung Quốc có nhiều người giải thích “giấu mình chờ thời” là chiến lược ngoại giao của Trung Quốc. Nếu xem xét từ khía cạnh không thách thức bá quyền Mỹ và không thách thức hệ thống quốc tế, “giấu mình chờ thời” kỳ thực có thể đạt tới tầm chiến lược. Nhưng, muốn lý giải một cách hoàn chỉnh ngoại giao “giấu mình chờ thời”, cần phải nắm chắc nội hàm quan trọng của hai phương diện sau:

Thứ nhất, “giấu mình chờ thời” là một sách lược Đặng Tiểu Bình sử dụng để vỗ về phái cực tả trong nước. Khi Đặng Tiểu Bình đề xướng ngoại giao “giấu mình chờ thời”, phái cực tả ở Trung Quốc đang cổ xuý mạnh mẽ cho thuyết cách mạng thế giới và luôn miệng nhắc tới vấn đề xuất khẩu cách mạng. Việc này đi ngược với cái gọi là đại chiến lược ngoại giao cách mạng và cải cách mở cửa. Khi Trung Quốc bắt đầu cải cách mởi cửa vào những năm cuối của thập niên 1970, đối tượng của mở cửa không phải là toàn bộ thế giới theo nghĩa rộng mà chỉ là thế giới của những nước phát triển lấy Mỹ làm hạt nhân. Nếu sau khi Liên Xô tan rã, Chiến tranh Lạnh kết thúc, Trung Quốc xuất đầu lộ diện làm cái gọi là lãnh tụ phe xã hội chủ nghĩa, chiến lược cải cách mở cửa sẽ bị gián đoạn. Do đó, ngoại giao “giấu mình chờ thời” mà Đặng Tiểu Bình đưa ra về thực chất là nhằm vỗ về phái cực tả, giảm thiểu sự quấy nhiễu của họ đối với cải cách mở cửa.

Thứ hai, “giấu mình chờ thời” từ trước tới nay không mâu thuẫn với việc bảo vệ lợi ích quốc gia, thậm chí xem xét ở góc độ ý nghĩa căn bản, người ta sẽ thấy mục đích của “giấu mình chờ thời” là nhằm bảo vệ và thực hiện tốt hơn lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, việc tiến hành cải cách mở cửa, gia nhập cộng đồng quốc tế và phát triển kinh tế chính là lợi ích quốc gia lớn nhất mà tiền đề của nó chính là việc thực hiện ngoại giao “giấu mình chờ thời”, không thách thức bá quyền Mỹ và không thách thức hệ thống quốc tế.

Như vậy, xem xét về mặt bản chất, ngoại giao “giấu mình chờ thời” không có nghĩa Trung Quốc phải giữ tư thế thấp trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia của mình, càng không có nghĩa là từ bỏ lợi ích quốc gia. Nếu cho rằng vì kiên trì ngoại giao “giấu mình chờ thời”, giảm bớt những nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế mà không dám bảo vệ lợi ích tự thân, thì đó chính là cách lý giải phiến diện về “giấu mình chờ thời”. Đặng Tiểu Bình đã hơn một lần nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ chịu ăn quả đắng tổn hại lợi ích quốc gia của mình. Trong vấn đề bảo vệ lợi ích quốc gia, Đặng Tiểu Bình luôn cứng rắn. Điều đó được thể hiện qua cuộc chiến phản kích tự về năm 1979 với Việt Nam, trong đàm phán với Anh liên quan đến vấn đề trao trả Hồng Công.

Nhiều năm lại đây, ngoại giao “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc đã quán triệt tương đối tốt chiến lược không làm kẻ thù của Mỹ, không thách thức hệ thống quốc tế, nhưng lại đối mặt với những khó khăn mang tính kỹ thuật trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia không ngừng mở rộng. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến ngoại giao Trung Quốc nhiều lần rơi vào bị động. Muốn thay đổi tình trạng này, Trung Quốc cần phải bắt tay thực hiện ba phương diện sau:

Một là, đề ra đại chiến lược trỗi dậy rõ ràng đúng đắn, loại bỏ nghi ngại từ cộng đồng quốc tế. Trong quá trình bảo vệ lợi ích tự thân, trở lực lớn nhất đối với Trung Quốc đến từ sự nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế. Khi Mỹ coi việc Trung Quốc bảo vệ lợi ích là hành động thách thức địa vị bá quyền của Mỹ, khi cộng đồng quốc tế coi việc Trung Quốc bảo vệ lợi ích là hành động thách thức hệ thống quốc tế, khi sự nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế kết hợp với nhau, cục diện bảo vệ lợi ích tự thân của Trung Quốc sẽ trở nên phức tạp hoá. Xem xét từ khía cạnh này, trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc phải xác lập một đại chiến lược phát triển đất nước đúng đắn và tương đối minh bạch. Đại chiến lược này phải lấy chủ nghĩa tự do làm chỉ đạo, hợp tác với cộng đồng quốc tế làm tiền đề, thực thi trách nhiệm quốc tế làm đòn bẩy, để giảm bớt nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Hai là, tranh thủ quyền phát ngôn. Ở đây tồn tại một vấn đề mang tính nghịch lý là tuy đề ra ngoại giao “giấu mình chờ thời” và thực thi nó, nhưng Trung Quốc lại không có quyền phát ngôn để nói rõ và giải thích về nguyên tắc ngoại giao này. Do không có quyền phát ngôn, Chính phủ và giới học giả Trung Quốc luôn bị động trong việc đối phó với những chất vấn từ dư luận, cộng đồng quốc tế, thường xuyên trong cảnh càng phân bua càng bị nghi ngờ. Ví dụ: thuyết “Trung Quốc trách nhiệm” mâu thuẫn với những kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với ngoại giao “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc. Bởi đã muốn thực thi trách nhiệm thì phải có hành động dưới tiền đề bảo vệ và thực hiện lợi ích tự thân. Nhưng mỗi khi Trung Quốc nỗ lực thực thi trách nhiệm, cộng đồng quốc tế thường nảy sinh nghi ngờ về động cơ của Trung Quốc. Hiện nay cái mà Trung Quốc cần làm là thiết lập quyền phát ngôn của mình trên ba phương diện: định nghĩa rõ “giấu mình chờ thời”, định nghĩa rõ “trỗi dậy hoà bình” và định nghĩa rõ “trách nhiệm Trung Quốc”.

Ba là, bồi dưỡng sự tự tin nước lớn. Một thách thức quan trọng hiện nay mà Trung Quốc đang phải đối mặt là vấn đề nhận thức của cộng đồng quốc tế. Ví dụ: đối với các sự vụ xung quanh, cho dù Trung Quốc nói gì, làm gì và cách làm đó của Trung Quốc là hợp tình hợp lý, nhưng cộng đồng quốc tế đều có khuynh hướng nhìn nhận tiêu cực. Đối mặt với sự nghi ngờ của cộng đồng quốc tế, hành vi ngoại giao của Trung Quốc thường trở nên “sợ bóng sợ gió”, chần chừ do dự, kết quả là bỏ lỡ thời cơ mà vẫn không thể loại bỏ nghi ngờ của cộng đồng quốc tế. Muốn kiên quyết bảo vệ lợi ích tự thân, Trung Quốc phải loại bỏ sự gây nhiễu của các loại nghi ngờ. Thời gian sẽ giải quyết tất cả. Trong tiến trình trỗi dậy, nước lớn và cộng đồng quốc tế đều có một quá trình điều chỉnh thích hợp với nhau. Nước lớn phải thích ứng với sự lo lắng và sợ hãi ở một mức độ nhất định của cộng đồng quốc tế, cộng đồng quốc tế cuối cùng cũng phải thích ứng với những chấn động và tác động nhất định gây ra bởi sự trỗi dậy của nước lớn đó. Trên thực tế, nước lớn nếu không có sự tự tin, sự lo ngại của cộng đồng quốc tế sẽ ngày càng thêm trầm trọng.

Cùng với sự tăng cường của sức mạnh quốc gia và sự mở rộng về lợi ích quốc gia, việc Trung Quốc có thể xem xét một cách toàn diện và nắm vững toàn bộ nội hàm ngoại giao “giấu mình chờ thời” hay không có quan hệ trực tiếp tới sự ổn định của cộng đồng quốc tế và trực tiếp hơn là lợi ích của Trung Quốc. Xem xét từ kinh nghiệm lịch sử, cộng đồng quốc tế sẽ càng chú ý hơn tới kết quả trỗi dậy của Trung Quốc, chứ không dừng lại ở phương thức trỗi dậy. Đối với Trung Quốc, trỗi dậy là mục đích, ngoại giao “giấu mình chờ thời” là biện pháp. Trung Quốc tuyệt đối không được lý giải và thực hiện một cách cứng nhắc ngoại giao “giấu mình chờ thời”, để rơi vào cạm bẫy “trỗi” nhưng không “dậy”.

***

Vừa qua, trang web của tờ báo này cũng đăng bài của phó Giáo sư Trương Vân thuộc Đại học Niigata (Nhật Bản) cho biết ngày 8/6, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo Ngoại trưởng Libi Abdelati Obeidi đã đến Bắc Kinh gặp gỡ người đồng cấp phía Trung Quốc Dương Khiết Trì. Trước đó không lâu, phía Trung Quốc cũng lên tiếng chứng thực thông tin về việc quan chức ngoại giao nước này tới thành phố Benghazi ở miền Đông Libi hội đàm với lãnh đạo phong trào vũ trang chống chính phủ ở Libi. Đây có thể là lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao, Trung Quốc tiếp xúc đồng thời với cả chính phủ nước ngoài đương nhiệm lẫn thế lực chống lại chính phủ đó. Nó đánh dấu việc ngoại giao Trung Quốc trên thực tế đã nới lỏng nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vẫn kiên trì lâu nay.

Mâu thuẫn giữa toàn cầu hoá lợi ích và nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” của Trung Quốc

Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” đã trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của ngoại giao Trung Quốc. Đầu những năm 1980, một lần nữa Trung Quốc đã định vị rõ ràng chính sách ngoại giao của nước này là độc lập tự chủ và hoà bình, trong đó “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” được đặc biệt nhấn mạnh. Việc nhất quán theo đuổi nguyên tắc này đã tạo ra những đóng góp khá lớn giúp Trung Quốc có được hình ảnh đạo nghĩa trên trường quốc tế. Từ khi thực hiện chính sách cải cách mở cửa, trọng tâm công tác của Trung Quốc chuyển sang lĩnh vực xây dựng kinh tế, nhờ nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác”, Trung Quốc có được lý do hợp lý và đạo nghĩa để giảm thiểu tới mức thấp nhất khả năng bị cuốn vào các sự vụ quốc tế. Ở một mức độ nào đó, các hoạt động kinh tế đối ngoại của Trung Quốc đã được triển khai một cách tương đối tự do trên nguyên tắc ngoại giao này.

Tuy nhiên, sau 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Lợi ích quốc tế của Trung Quốc đã phủ khắp toàn cầu. Nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vốn giúp Trung Quốc tránh bị cuốn vào những phiền toái rắc rối đã bắt đầu gây trở ngại cho nước này trong việc bảo vệ lợi ích của mình. Thực tiễn ngoại giao cho thấy mấy năm lại đây, Trung Quốc đã dần dần có sự đột phát về cách làm trước đây – kiên trì nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” một cách giáo điều.

Tại châu Phi, Xuđăng là ví dụ điển hình. Trung Quốc đầu tư phát triển 40% giếng dầu ở Xuđăng và khoảng 60% lượng dầu thô xuất khẩu của Xuđăng là bán cho Trung Quốc. Nhưng các khu sản xuất dầu của Xuđăng chủ yếu phân bố ở miền Nam nước này. Trong khi đó, do các nguyên nhân về chủng tộc và tôn giáo, từ lâu miền Nam Xuđăng là nơi hoạt động của phong trào vũ trang đòi độc lập. Hai năm lại đây, phong trào vũ trang đòi độc lập ở miền Nam ngày một lớn mạnh. Năm 2010, Chính phủ Xuđăng đành phải đồng ý để người dân miền Nam nước này bỏ phiếu tự quyết định vận mệnh. Vào tháng 2 năm nay, cuộc bỏ phiếu này đã được tổ chức. Kết quả là 99% người dân miền Nam Xuđăng ủng hộ việc độc lập xây dựng quốc gia riêng. Chính phủ miền Bắc đã thừa nhận kết quả này.

Theo nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác”, lâu nay Trung Quốc giữ được mối quan hệ tốt đẹp với Chính phủ Xuđăng. Nhưng hiện thực Xuđăng sẽ bị phân chia thành hai quốc gia chủ quyền sẽ ảnh hưởng tới lợi ích thực tế của Trung Quốc tại nước này và những chuyển động thực tế trong hai năm qua của Trung Quốc tại Xuđăng có thể nói là thiết thực. Quan chức Trung Quốc đã nhiều lần tới thăm Nam Xuđăng. Lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Nhân dân Xuđăng ở miền Nam cũng hai lần tới thăm Bắc Kinh. Theo thông tin đăng tải, Đặc sứ châu Phi của Trung Quốc Lưu Quý Kim từng lên tiếng kêu gọi Chính phủ Xuđăng để người dân miền Nam nước này tiến hành bỏ phiếu quyết định vận mệnh của mình đúng thời hạn.

Tại châu Á, Mianma có thể là ví dụ điển hình. Năm ngoái, sau khi quân Chính phủ Mianma xung đột vũ trang với dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước này, khoảng 30.000 người tị nạn Mianma đã tràn sang Trung Quốc lánh nạn. Những hạng mục hợp tác lớn cho dù là về năng lượng hay thuỷ lợi giữa Trung Quốc và Mianma đều không được thực hiện ở thủ đô Mianma, mà phần lớn nằm ở khu vực dân tộc thiểu số. Nếu Trung Quốc không xây dựng được quan hệ tốt đẹp tương ứng với những khu vực dân tộc thiểu số này, lợi ích của Trung Quốc có thể bị tổn hại bất cứ lúc nào. Theo thông tin đăng tải, lãnh tụ dân tộc thiểu số địa phương Mianma đã bày tỏ hi vọng rằng Trung Quốc sẽ tích cực điều đình quan hệ giữa họ với Chính phủ Mianma. Cho dù về mặt chính thức, Trung Quốc không có dấu hiệu can dự vào việc điều đình quan hệ giữa phong trào độc lập dân tộc thiểu số Mianma với Chính phủ Mianma, nhưng giới truyền thông đã đưa tin về việc lãnh đạo phong trào độc lập dân tộc thiểu số từng tới thăm Trung Quốc vào năm 2010. Nếu thông tin này là có thực, nó càng làm sáng tỏ khuynh hướng thiết thực của ngoại giao Trung Quốc.

Sự sáng tạo trí tuệ của quan niệm ngoại giao khắc phục khó khăn

Trung Quốc đương nhiên có lý do và nghĩa vụ tiếp tục duy trì nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vì đây là chuẩn tắc cơ bản của Luật quốc tế, của Hiến chương Liên hợp quốc và của quan hệ quốc tế hiện đại. Những thách thức hiện nay không nằm ở chỗ nên hay không nên từ bỏ nguyên tắc này mà là duy trì nó như thế nào. Rất rõ ràng, kiểu duy trì nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” một cách tuyệt đối như trước đây kông còn thích hợp với lợi ích quốc tế, cũng không thích hợp với địa vị quốc tế hiện nay của Trung Quốc. Những người thực hiện chính sách ngoại giao của Trung Quốc đã có bước thay đổi dần dần theo kiểu “ném đá dò đường qua sông”. Nhưng Trung Quốc chưa có sự chuẩn bị tốt về mặt quan niệm ngoại giao. Trong lĩnh vực nhận thức và lý luận, ngoại giao Trung Quốc phải trả lời và đối mặt một cách bình tĩnh với một vấn đề nhạy cảm, đó là nhìn nhận như thế nào về vấn đề nội chiến cũng như vấn đề li khai của nước khác.

Đối với Trung Quốc, hai vấn đề này quá nhạy cảm. Các thế lực chủ trương độc lập Tân Cương, Tây Tạng vẫn luôn là căn nguyên quan trọng trong nhân tố gây bất ổn định ở Trung Quốc. Vấn đề Đài Loan thuộc lợi ích cốt lõi lại càng liên quan trực tiếp tới sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và thống nhất đất nước. Cũng vì liên quan tới các vấn đề này, Trung Quốc đã giữ thái độ tiêu cực khi phản ứng trước các cuộc nội chiến và li khai xảy ra ở các nước khác thời hậu Chiến tranh Lạnh. Ví dụ rõ ràng nhất là việc Trung Quốc không thừa nhận Côxôvô sau khi vùng lãnh thổ này tuyên bố độc lập vào năm 2007. Xuđăng sắp tới sẽ phân chia thành hai quốc gia chủ quyền. Trung Quốc sẽ bày tỏ thái độ ra sao, đây là vấn đề rất đáng quan tâm chú ý. Ngoài ra, cuộc nội chiến Libi vẫn tiếp tục, không loại trừ khả năng giằng co lâu dài, cho dù nhà lãnh đạo Gaddafi có ra đi hay không, Libi trong tương lai cũng có thể phải đối mặt với nguy cơ phân chia thành hai quốc gia.

Hiện thực quan hệ quốc tế cho thấy li khai đã trở thành một trong những lựa chọn hiện thực mà những nước bị thực dân phương Tây và cục diện Chiến tranh Lạnh hoạch định đường biên giới, sau đó rơi vào nội chiến do các nhân tố như tôn giáo, dân tộc, phải đối mặt. Hiện thực này bắt đầu được coi trọng. Là một nước lớn đang trỗi đậy và có lợi ích toàn cầu ngày một tăng, việc Trung Quốc sẽ tỏ thái độ như thế nào không chỉ liên quan đến lợi ích hiện thực của Trung Quốc, mà còn liên quan tới trách nhiệm đạo nghĩa của nước này.

Cách sử dụng nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” để né tránh tỏ thái độ vì lo ngại sẽ đụng chạm tới vấn đề trong nước của Trung Quốc đã rơi vào tình trạng ngày càng khó khăn. Trên thực tế, tính chất hoạt động li khai ở Trung Quốc hoàn toàn không giống với hoạt động li khai ở nhiều nước. Lịch sử giao lưu tiếp xúc lẫn nhau giữa các dân tộc Trung Quốc rất dài, tư tưởng đại thống cũng có nền tảng dân chúng rất mạnh. Sức hấp dẫn tạo ra từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc lớn hơn rất nhiều so với sức kích động của các thế lực li khai. Cho nên, Trung Quốc không cần phải quá lo lắng. Nếu do lo lắng tác động tới vấn trong nước mà bỏ lời thời cơ bày tỏ thái độ về mặt ngoại giao, rất có khả năng Trung Quốc sẽ phải đối mặt với rủi ro rơi vào tình trạng bị động về ngoại giao, lợi ích bị tổn hại và uy tín quốc tế bị giảm xuống sau khi xuất hiện thay đổi lớn.

Nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vẫn phải kiên trì, nhưng tuyệt đối không được giáo điều hoá, đây vừa là yêu cầu thực tế vừa là biểu hiện cụ thể về trách nhiệm quốc tế của Trung Quốc. Nhưng làm sáng tỏ nó và kiên trì ở mức độ như thế nào lại cần tới sức sáng tạo trí tuệ về mặt quan niệm ngoại giao./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: