Em Ba Sàm

Archive for the ‘Bài phân tích Ba Sàm’ Category

165. Việt Nam với cơn thịnh nộ được kiểm soát cẩn thận

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 8, 2011

The Diplomat

Việt Nam với cơn thịnh nộ được kiểm soát cẩn thận

Bridget O’Flaherty

Ngày 6-7-2011

Những cuộc biểu tình xảy ra vài tuần qua ở Hà Nội, liên quan đến tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, có thể là nhỏ đấy, nhưng vẫn hết sức bất thường.

5 chủ nhật liên tiếp trong tháng qua, những người biểu tình ở Hà Nội đã tập trung gần Đại sứ quán Trung Quốc để phản đối các hành động gần đây của Trung Quốc trên biển Hoa Nam (được Việt Nam gọi là Biển Đông).

Những cuộc tụ tập thu hút có lẽ thu hút chỉ vài trăm người, và thậm chí có mấy lần còn ít hơn thế nữa. Tuy nhiên, ở một nước nơi các cuộc biểu tình công cộng rất hiếm khi xảy ra và nếu xảy ra thì nhìn chung chỉ tập trung vào các vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống thường nhật của người dân, như là chiếm hữu đất đai hay điều kiện làm việc ở nhà máy – thì những cuộc tụ tập như thế đặc biệt bất thường.

Cho đến nay, các cuộc biểu tình đều bắt đầu ở gần Đại sứ quán Trung Quốc, mặc dù hàng rào trên đường Hoàng Diệu nơi đại sứ quán thật sự tọa lạc thì nói chung chưa bao giờ được công an dỡ bỏ. Hậu quả là những người biểu tình phải đứng ở quảng trường Ba Đình (nơi có bức tượng Lenin nổi tiếng) (1) rồi sau đó đi vòng quanh khu trung tâm thành phố và cái hồ trung tâm của Hà Nội – Hoàn Kiếm.

Về phần mình, công an có vẻ phải bận tâm hơn một chút so với khi làm công việc đảm bảo cho xe cộ lưu thông ổn thỏa.

Nhiều người biểu tình mà tôi có dịp nói chuyện cùng cho biết, họ nghe tin về cuộc biểu tình qua các nguồn trên mạng, chẳng hạn Facebook. Mạng xã hội này rất được ưa thích ở Việt Nam, mặc dù chính quyền đã chặn Facebook từ cuối năm 2009 khi các nhà hoạt động bắt đầu tiến hành tổ chức trên mạng, chủ yếu xoay quanh một vấn đề gây tranh cãi, là vụ Trung Quốc khai thác các mỏ bauxite ở Tây Nguyên.

Nhớ lại thời gian đó, vấn đề bauxite đã đoàn kết các nhóm trước nay vốn chia rẽ, từ nhóm Thiên Chúa giáo bất đồng chính kiến, tới các nhà hoạt động môi trường, tới các nhân vật bất đồng về chính trị – những người lo lắng trước ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Việt Nam. Do vậy, một trong những nỗi lo bây giờ là sự thể hiện chủ nghĩa dân tộc như hiện nay có thể tạo cớ cho những nỗi bất mãn khác được thổ lộ.

“Mặc dù những người phản đối được phép biểu tình, nhưng công an theo dõi rất chặt mọi âm mưu chuyển hướng thông điệp sang đối tượng chính phủ” – Jennifer Richmond, giám đốc nhóm phân tích thông tin tình báo Stratfor ở Trung Quốc, nhận xét. “Nói cách khác, nền chính trị trong nước lung lay không vững đang làm phức tạp thêm nỗ lực của các quốc gia nhằm kiểm soát tranh chấp chủ quyền ở biển Hoa Nam”.

Ít nhất thì cho đến nay, cũng hầu như chưa có bằng chứng nào rõ ràng về việc này, mặc dù hồi tháng 6, một người biểu tình đã cầm theo khẩu hiệu viết tay với nội dung chống cộng, và một số nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng cũng có mặt. Nhìn chung sự phẫn nộ chủ yếu tập trung vào Trung Quốc và những hành động của nước láng giềng lớn này, mà theo quan sát là đã vi phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, cũng như cách hành xử của đội tàu Trung Quốc với ngư dân Việt Nam. Một số cơ quan báo chí nước ngoài còn đưa tin rằng, cùng với tình cảm dân tộc chủ nghĩa bừng bừng dâng lên, một số lượng ngày càng gia tăng doanh nghiệp Trung Quốc đã bị tẩy chay.

“Trung Quốc chấm dứt vi phạm chủ quyền Việt Nam” – một khẩu hiệu điển hình viết như vậy. Một người biểu tình khác giơ cao ảnh tướng Võ Nguyên Giáp, năm nay đã 90 tuổi (2), vị kiến trúc sư đằng sau thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ. “Tinh thần Võ Nguyên Giáp bất diệt. Chúng tôi sẵn sàng gia nhập quân đội!”.

Một số ý kiến cho rằng bằng việc cho phép biểu tình, Hà Nội đang thực hiện hai mục đích: gửi một thông điệp rất tế nhị tới Bắc Kinh, đồng thời cũng cho phép người dân xả chút ít nóng giận thông qua việc để cho họ thể hiện nỗi bất bình của mình một cách dễ dàng.

Lập trường cứng rắn hơn của Việt Nam đối với Trung Quốc lần này – tiến hành tập trận bắn đạt thật và công bố thông tin chi tiết về những người được miễn nghĩa vụ quân sự nếu chiến tranh nổ ra – kết hợp với một chút hành xử linh hoạt trong nước, đối lập với những giai đoạn bất ổn trước đây khi các blogger và nhà hoạt động bị truy tố vì đã công khai chỉ trích chính phủ “để mất đảo vào tay Trung Quốc”.

Năm 2008, 6 nhà hoạt động ở thành phố cảng phía bắc, Hải Phòng, và thành phố Hải Dương lân cận, đã trương biểu ngữ đòi dân chủ, lên án chính phủ tham nhũng, và cho rằng chính phủ đã nhượng đảo cho Trung Quốc. Cả 6 người đều bị xử tù.

Năm 2009, ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Australia ở Canberra, viết rằng phong trào phản đối về chính trị khi ấy đã phát triển đến một mức độ bao hàm cả những mối quan tâm dân tộc chủ nghĩa, thay vì chỉ tập trung vào nhân quyền và tự do ngôn luận. “Điều này làm lộ ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với chính quyền của đất nước độc đảng này, khi mà phản ứng thù địch với Trung Quốc ngày một gia tăng và lan rộng từ các thành phần cực đoan về chính trị sang cả tầng lớp tinh hoa chính trị – những người thắc mắc về phản ứng mà theo họ là chưa phù hợp của chính quyền trước sự quyết liệt ngày một mạnh mẽ của Trung Quốc trên biển Hoa Nam” – ông Carl Thayer viết.

Chắc chắn là, người Việt Nam có một sự ngờ vực sâu sắc đối với Trung Quốc; thái độ này đặc biệt rõ ở miền Bắc, nơi từng bị Trung Quốc chiếm làm thuộc địa tới hơn 1000 năm.

Cuộc đối đầu gần đây nhất giữa hai nước là lần đụng độ tồi tệ nhất kể từ năm 1988 khi hải chiến xảy ra làm 70 người Việt Nam bị sát hại. Năm 1979, Trung Quốc xâm lược Việt Nam như một hành động trả đũa việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia để lật đổ Khmer Đỏ, song quân Trung Quốc đã bị đánh bại sau một cuộc chiến ngắn nhưng đẫm máu dọc biên giới phía bắc Việt Nam.

Hiện nay, sức mạnh hải quân gia tăng của Trung Quốc khiến nhiều người Việt Nam – và chính quyền Việt Nam – lo ngại, và để đáp lại phần nào, nước này đã tăng cường hải quân của mình. Năm ngoái, họ mua 6 tàu ngầm lớp Kilo từ Nga, và tuyên bố mở cửa vịnh Cam Ranh ở miền Trung, gần địa điểm nghỉ mát Nha Trang, cho các đội tàu nước ngoài.

Vịnh cảng Cam Ranh từng được người Mỹ sử dụng trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, sau đó là người Nga. Hiện tại, Việt Nam đã lấy lại quyền kiểm soát vịnh cảng, và có tin cho rằng Việt Nam sẽ phát triển Cam Ranh với sự trợ giúp của Nga. Kế hoạch của họ được coi như một nỗ lực mạnh hơn nhằm đương đầu với sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong khu vực.

Tuy nhiên, như thế có lẽ vẫn chưa đủ để làm yên lòng một số người Việt Nam. Một người biểu tình giấu tên cho biết anh không làm chính trị, mà anh chỉ muốn phản đối hành động của Trung Quốc một cách ôn hòa. “Nhưng tôi hy vọng là trong mấy ngày tới, sẽ có thêm nhiều người nữa tới đây để phản đối, để cho thấy rằng chính sách của chính phủ Việt Nam đối với Trung Quốc là chưa đủ mạnh mẽ” – anh nói.

Khó mà biết chắc được những người biểu tình như anh cảm thấy như thế nào về chuyến thăm của Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn tới Bắc Kinh hồi cuối tháng qua, tại đó ông Sơn nhất trí với các quan chức Trung Quốc là phải nhấn mạnh tầm quan trọng của đàm phán ngoại giao trong việc giải quyết tranh chấp hàng hải Trung Quốc – Việt Nam.

Nhưng ngay cả khi họ có bất mãn đi nữa, cũng không còn thời gian để người Việt Nam có thể xả cơn phẫn nộ của họ một cách công khai. Khi đã nối lại được quan hệ ngoại giao với Trung Quốc theo một hình thức nào đó, có thể nói chính phủ đang ngày một chán cái đám người ít ỏi mà to mồm, đang đòi nhà nước phải hành động cứng rắn hơn kia. Do vậy, cuộc biểu tình cuối tuần qua có lẽ là cuộc biểu tình cuối cùng, ít nhất cũng là trong một thời gian nữa.

(1) Tác giả nhầm, ở đây không phải quảng trường Ba Đình mà là vườn hoa Chi Lăng.

(2) Nguyên văn là nonagenarian, nghĩa là người thọ chín mươi tuổi. Tuy nhiên năm nay Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã bước sang tuổi 100.

Người dịch: Thủy Trúc

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

164. SỨC MẠNH QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC HIỆN NAY RA SAO?

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 7, 2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Ba, ngày 05/07/2011

SỨC MẠNH QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC

HIỆN NAY RA SAO?

 (Đài Ôxtrâylia 28/6)

Ngày 24/6, trang mạng của Tổ chức Stratfor đã đăng bài phỏng vấn ông Nathan Hughes, Giám đốc Phân tích Quân sự của tổ chức này, xoay quanh sức mạnh lẫn điểm hạn chế của nền quân sự Trung Quốc.

 

Stratfor là tổ chức ra đời năm 1996 ở Austin (Texas, Mỹ) bởi nhà sáng lập George Friedman. Stratfor quy tụ các chuyên gia tình báo toàn cầu cung cấp và trao đổi các thông tin độc lập về sự phát triển chính trị, kinh tế và quân sự cho những người đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập tin tức tình báo ở Mỹ và các nước trên thế giới. Bằng những thông tin được trao đổi, Stratfor nỗ lực đưa ra những lời giải thích xác đáng về các sự kiện trên thế giới.

Stratfor cho biết những căng thẳng gia tăng ở vùng Biển Đông giữa Việt Nam, Philippin và Trung Quốc gần đây nhất bắt nguồn từ xung đột chủ quyền vùng lãnh hải giàu tài nguyên dầu khí. Trung Quốc cũng lên tiếng yêu cầu Mỹ tránh can dự vào các xung đột chủ quyền ở Biển Đông – một động thái được Trung Quốc ví như “đang đùa với lửa”.

Những đánh giá mới nhất về sức mạnh và tiềm năng của quân đội Trung Quốc được chuyên gia Nathan Hughes thảo luận bắt đầu từ tin tức về việc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sẽ được thử nghiệm trên biển và dự kiến đưa vào sử dụng vào năm tới. Ông Nathan Hughes cho biết: “Chương trình tàu sân bay của Trung Quốc mới chỉ ở giai đoạn ban đầu. Quân đội Trung Quốc đã sở hữu tàu chiến Varyag trong hơn một thập kỷ. Varyag ban đầu được mua từ Ucraina để làm sòng bạc, ít nhất theo mục tiêu đề ra từ năm 1988. Tuy nhiên, cần thời gian dài mới có thể phát triển tất cả những năng lực cần thiết để điều hành một tàu sân bay hiệu quả. Đây là điều Mỹ đã thực hiện trong 100 năm qua trong khi Trung Quốc mới chỉ bắt đầu. Khi tàu sân bay được đưa ra biển, chưa ai có thể chắc chắn khi nào các máy bay trên tàu này có thể cất cánh. Chúng tôi hình dung rằng vẫn còn một lượng thiết bị và mảnh vụn đáng kể trong quá trình chế tạo vẫn nằm trên sàn tàu và ‘đống phế liệu’ này có thể ra biển cùng tàu sân bay bởi cuộc thử nghiệm đầu tiên trên biển chỉ nhằm mục tiêu đẩy tốc độ động cơ và đảm bảo hệ thống điều khiển cơ bản của tàu hoạt động đúng hướng”.

+ Như vậy tàu sân bay Trung Quốc chỉ diễn tập trên biển chứ không có thử nghiệm vũ khí?

–                           Đúng thế. Các cuộc diễn tập thử nghiệm ban đầu của tàu sân bay chỉ để đảm bảo rằng động cơ hoạt động đúng thiết kế, đặc biệt khi nói đến mục tiêu của tàu sân bay như là đưa vào sử dụng và phục hồi hai cánh của tàu sân bay.

+ Cho dù với việc bổ sung thêm loại phương tiện này, Hải quân Trung Quốc vẫn chỉ là một bộ phận nhỏ của quân đội Trung Quốc. Hầu hết thiết bị quân sự thuộc về bộ binh và lực lượng này cũng chiếm nguồn ngân sách lớn hơn. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc nỗ lực ra sao để giải quyết các vấn đề trong nước?

–                           Vấn đề quan trọng cần nhớ về Trung Quốc là đa số quân đội và lực lượng an ninh đều phục vụ cho việc giải quyết các vụ đụng độ trên đất liền và thực hiện các sứ mệnh an ninh trong nước. Vai trò của Hải quân và Không quân mặc dù được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây nhưng vẫn chỉ là phần nhỏ. Trên thực tế, nếu kết hợp cả Hải quân và Không quân, hai lực lượng này vẫn ít hơn lực lượng an ninh nội bộ dưới quyền chỉ huy của Bộ Quốc phòng. Chúng ta cũng cần chú ý rằng Trung Quốc là một nước lớn, tương đương với diện tích nước Mỹ. Tuy nhiên, dân số Trung Quốc lớn hơn dân dố Mỹ khoảng một tỉ người. Hầu hết dân chúng sống trong điều kiện thấp, nhiều người vỡ mộng với việc tái cân bằng tài chính. Nhiều người sống ở các vùng tự trị và là dân tộc thiểu số. Do vậy, Trung Quốc khá vất vả trong việc kiểm soát an ninh nội bộ mặc dù người ngoài nhìn nhận rằng nước này đang hướng hoạt động quân sự ra bên ngoài.

+ Ông có thể đưa ra một vài con số được không?

–                           Tổng lực lượng Không quân và Hải quân thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc có số lượng dưới 600.000 quân trong khi lực lượng vũ trang nhân dân và lực lượng an ninh các cấp trong nước, bao gồm cảnh sát vùng biên, cảnh sát đường sắt, có số lượng trên 700.000 người. Con số này chưa tính đến lực lượng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc với 1,6 triệu quân nhân.

+ Vậy khả năng các lực lượng này khi tác chiến nhanh ra sao?

–                           Lực lượng quân đội Trung Quốc hiện nay có trình độ công nghệ khá thấp. Mục tiêu chủ yếu của họ là duy trì an ninh trong nước và bảo vệ biên giới quốc gia và chiến đấu theo lối truyền thống. Do vậy, Trung Quốc phải đối mặt với nhiều thách thức sâu sắc trong thời kỳ hiện đại hoá từ năm 1980 trong vấn đề áp dụng kỹ thuật, hệ thống và các loại vũ khí mới mà họ đã và đang nghiên cứu, tích hợp các phương tiện này theo một hệ thống triển khai chiến đấu hiệu quả hơn ngoài mặt trận. Trung Quốc gần đây đã tập trung nhiều vào việc thử nghiệm hai tàu chiến và một tàu hỗ trợ trong sứ mệnh chống cướp biển ở ngoài khơi vùng biển Xômali. Mặc dù đây là một vấn đề ‘uy tín quốc gia’, song nó đòi hỏi phải nghiên cứu những vấn đề cơ bản trong việc duy trì các tàu chiến hải quân ngoài khơi, bảo trì và bổ sung các nguồn hậu cần. Đây là những vấn đề Trung Quốc vẫn chưa quen và việc nghiên cứu các giải pháp để có thể triển khai các lực lượng lớn ở vùng biên giới Trung Quốc vẫn là một câu hỏi lớn thực sự cần có lời giải đáp.

+ Ông đánh giá thế nào về chất lượng nền tảng công nghệ mà Trung Quốc đã đầu tư?

–                           Tôi đã nghiên cứu nền tảng công nghệ mới nhất của Nga từ những năm 1980. Vào thời điểm bấy giờ, khi mọi việc diễn ra theo chiều hướng xấu đối với Nga, Trung Quốc là khách hàng duy nhất và lớn nhất mua công nghệ cao của Nga. Họ đã kết hợp việc mua bán công nghệ này với hoạt động gián điệp, bao gồm cả hệ thống gián điệp trên mạng, để đánh cắp thông tin công nghệ mới nhất cảu Liên Xô và các nước đồng minh. Trung Quốc đã có những nỗ lực lớn trong việc tập hợp các thông tin để tự xây dựng nền tảng công nghệ riêng cho họ. Tuy nhiên thách thức đặt ra là Trung Quốc vẫn còn khá mới mẻ trong lĩnh vực này trong khi công nghệ phát triển như vũ bão. Trung Quốc ít có khả năng tích hợp những tiến bộ công nghệ trong chiến tranh bởi thiếu kinh nghiệm thực tế. Điều này để lại dấu hỏi về khả năng ứng dụng thiết bị một khi chiến tranh nổ ra.

***

(Đài BBC 15/6)

Một cuộc chạy đua vũ trang hàng hải đang diễn ra tại Biển Đông. Bắc Kinh đang nhanh chóng phát triển năng lực quân đội nhằm mở rộng sức mạnh tới những bến bờ mới.

Hiện hải quân nước này đã thống trị khu vực và trong tương lai có thể sẽ thách thức vị trí số một của hải quân Mỹ. Chẳng khó đoán tại sao nhiều nước láng giềng của Trung Quốc lại tỏ ra lo lắng, nhất là Việt Nam và Philippin, những quốc gia đang có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc.

Theo Tiến sỹ Andrew Erickson, chuyên gia về Trung Quốc tại Học viện Hải quân Mỹ: “Trung Quốc không muốn khởi chiến mà chỉ muốn phô trương sức mạnh để không đánh mà thắng, răn đe các hành động mà Bắc Kinh xem là ảnh hưởng tới lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Hiện có ba hệ thống vũ trang có thể xem như là tiêu biểu cho việc mở rộng tầm chiến lược của Trung Quốc.

–                           Hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc sẽ được sử dụng thử vào cuối năm nay.

–                           Cuối năm ngoái, những bức ảnh đầu tiên bị rò rỉ cũng cho thấy loại máy bay tàng hình đầu tiên mà Trung Quốc đang chế tạo.

–                           Các chuyên gia quân sự Mỹ nói rằng Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng loại tên lửa tầm xa có khả năng tiêu diệt các mục tiêu di động trên biển.

Tiến sĩ Erickson nói rằng cho tới nay, việc phát triển khả năng quân sự của Trung Quốc vẫn ở tầm khu vực và nhằm ngăn chặn Đài Loan tuyên bố độc lập. Một phần của chiến lược này là phát triển khả năng chống trả các hàng không mẫu hạm của Mỹ, phòng trường hợp Oasinhton quyết định can thiệp vào các xung đột trong vùng.

Hệ thống tên lửa diệt tàu chiến

Trung Quốc đã đưa vào sử dụng một số lượng đáng kể tên lửa và các loại vũ khí khác có tầm bắn rất xa. Trong số đó, đặc biệt nhất là tên lửa chống tàu chiến DF-21D. Đây là hệ thống đặt trên mặt đất, có khả năng tấn công các hàng không mẫu hạm vốn là nền tảng của chiến lược hàng hải Mỹ.

Tên lửa DF-21D (còn có tên gaọi CSS-5) có tầm bắn hơn 1.500km. Nó được trang bị đầu đạn nguỵ trang cho phép quân đội Trung Quốc nhắm bắn các tàu chiến tại Tây Thái Bình Dương. Các quan chức Mỹ và người đứng đầu cơ quan an ninh Đài Loan đều cho rằng Trung Quốc đã bắt đầu mang tên lửa DF-21D ra sử dụng.

Không khó đoán được tại sao Bắc Kinh lại muốn có loại tên lửa này. Mục tiêu chính là ngăn chặn cường quốc hải quân khác trong khu vực là Mỹ, không cho nước này can thiệp vào các cuộc khủng hoảng trong tương lai, nhất là liên quan tới Đài Loan.

Cá mập bay

Kể từ thời kỳ Thế chiến II, hàng không mẫu hạm đã trở thành phương thức biểu thị uy thế hải quân trên thế giới.

Các nhóm hàng không mẫu hạm của Mỹ mang theo sân bay cùng nhiều loại máy bay chiến đấu có khả năng thực hiện nhiều hoạt động khác nhau. Mỗi tàu sân bay đều đi kèm một loạt chiến hạm và tàu ngầm để bảo vệ.

Nay Trung Quốc cũng bắt đầu tham gia cuộc đua hàng không mẫu hạm, tuy trong chừng mực còn khá sơ khai. Trung Quốc mua hàng không mẫu hạm Varyag từ thời Xôviết của Ucraina, và đang làm công việc trang bị lại.

Hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc sẽ mang theo máy bay cơ tiêm kích J-15, còn lại là Cá mập bay. Đây là loại máy bay chiến đầu được thiết kế dựa trên một loại máy bay khác của Nga, Sukhoi Su-33.

Theo tạp chí có uy tín Aviation Week & Space Technology, Trung Quốc có thể cũng mau Su-33 từ Ucraina.

Tin cho hay hàng không mẫu hạm đầu tiên có thể hạ thuỷ trong mùa Hè này. Khi đã hoạt động, nó sẽ mang lại cho hải quân Trung Quốc sức mạnh mới trong các tranh chấp hàng hải với các nước láng giềng.

Thế nhưng, giới chuyên gia phương Tây nói rằng hàng không mẫu hạm này chủ yếu được sử dụng trong huấn luyện vì việc điều hành hàng không mẫu hạm đòi hỏi kinh nghiệm mà cần nhiều thời gian mới có thể tích luỹ được.

Người ta cho rằng chiếc Varyag sửa lại này khó có thể cạnh tranh với các loại tàu sân bay của Mỹ. Tuy nhiên, Tiến sỹ Erickson cho biết Trung Quốc sẽ dùng hàng không mẫu hạm để “phô trương sức mạnh, ganh đua vị trí cường quốc đang lên và tập luyện các thao tác cơ bản”.

Đầy tham vọng

Không quân Trung Quốc cũng đang phát triển rất nhanh. Xưa nay, đa số các máy bay chiến đấu của nước này được sản xuất từ thời Liên Xô. Thế nhưng mới đây loại máy bay chiến đấu Thành Đô J-20 đã được ra mắt, đưa Trung Quốc vào danh sách số ít quốc gia có khả năng chế tạo máy bay tàng hình chống rađa đời thứ năm. Chuyến bay ra mắt của J-20 hồi tháng 1/2011 được thực hiện chỉ vài giờ trước khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates tới thăm Bắc Kinh, được nhiều nhà quan sát cho là hành động có chủ ý của Bắc Kinh.

Chuyên gia phân tích Douglas Barrie từ Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Luân Đôn, mói máy chiến đấu J-20 chưa sánh được với các máy bay tàng hình của Mỹ. Tuy nhiên ông nói thêm: “Loại máy chiến đấu này đánh dấu tham vọng của Trung Quốc trong việc nâng cao khả năng tác chiến trên không, và tăng cường căn cứ không quân”.

Dự án máy bay tàng hình của Trung Quốc cũng vẫn còn nhiều ẩn số. Ông Barrie còn cho biết: “Hiện còn chưa rõ liệu J-20 sẽ được mang ra sản xuất để tác chiến hay chỉ là mô hình công nghệ. Việc này sẽ cho thấy Trung Quốc có thể tăng cường khả năng nhanh chóng như thế nào. Nhiều khả năng nước này có thể mang các máy bay chiến đấu tàng hình ra sử dụng vào thập kỷ tới”.

Vậy, ý nghĩa của chiếc J-20 là gì, trong khi Mỹ sẽ có trong tay hàng trăm máy chiến đấu thế hệ thứ năm?

Theo ông Barrie, nếu Trung Quốc sản xuất hàng loạt J-20 thì không quân nước này có thể thách thức các cường quốc trong vùng châu Á-Thái Bình Dương, nhất là Mỹ.

Các chỉ huy quân đội Mỹ đang theo dõi sự phát triển của quân đội Trung Quốc một cách chăm chú. Thế nhưng trong tương lai gần, có lẽ Bắc Kinh vẫn còn phải chiêm ngưỡng sức mạnh hải quân của Mỹ một cách đầy thèm muốn./.

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

163. Không có đảng nào như Đảng Cộng Sản

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 7, 2011

Foreign Policy

PHÓNG SỰ ẢNH

Không có đảng nào như Đảng Cộng Sản

Nhìn lại 90 năm Đảng Cộng Sản ở Trung Quốc

Người viết các chú thích ảnh: Ty McCormick

Ngày 1 tháng 7 năm 2011 

1 – Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đang chuẩn bị cho việc kỷ niệm lần thứ 90 ngày thành lập của họ vào tuần này. Trong một nỗ lực tuyên truyền nhằm gây ấn tượng, CCP đã bảo trợ các buổi hòa nhạc, các buổi biểu diễn và các cuộc triển lãm nghệ thuật cách mạng cũng như “đại hội thể thao đỏ” và “du lịch đỏ” – tất cả đều nhằm lôi kéo sự quan tâm tới một thứ như là tiểu sử các “vị thánh” Cách Mạng. Thậm chí để đánh dấu dịp này CCP còn mua hai bức thư viết tay của Karl Marx. Cách đây chín mươi năm, khi Mao và 12 đại biểu ban đêm bí mật gặp nhau để thành lập CCP thì chủ đích của họ là tạo dựng một xã hội vô sản không tưởng. Trong những năm sau đó Mao đã kích động một cuộc cách mạng quần chúng nông dân để chống lại lực lượng Quốc dân đảng và Nhật và cuối cùng đã thống nhất đất nước Trung Quốc dưới sự cai trị của cộng sản vào năm 1949. Nhưng di sản ý thức hệ của Mao là một di sản đầy gai góc, bởi lẽ trong khi tầm nhìn lý tưởng của ông ta đến giờ vẫn còn gợi lên một nỗi hoài cổ nhất định nào đó thì những chính sách trên thực tế của ông ta – cụ thể là Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa – đã để lại hơn 20 triệu cái chết và gây tác hại không thể kể xiết cho cơ cấu xã hội của Trung Quốc.

Trong một thế giới của sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc thì người ta ngày càng khó nhận ra sự liên quan giữa chủ nghĩa cộng sản và vị thế ngày càng lớn mạnh của những nhà tư bản khổng lồ ở đất nước này. Hôm nay, đảng vẫn tiếp tục duy trì sự tồn tại chủ yếu như là một mạng lưới bảo trợ cho phép các đảng viên có cơ hội nhận được những công việc tốt trong chính phủ và khu vực nhà nước. Như tờ Bloomberg đã diễn tả, đảng hứa hẹn đảm bảo “an ninh, sức mạnh và một đường lối để đi đến sự thịnh vượng.” Mặc dù 1,24 triệu sinh viên đại học đã gia nhập đảng trong năm ngoái, song có lẽ người ta đã hiểu tại sao những lý tưởng cách mạng về ruộng đất đang có vẻ như là một cơ hội kinh doanh hơn là một triết học soi đường chỉ lối.

Dưới đây là một cái nhìn để thấy lãnh đạo CCP đã điều khiển như thế nào công cuộc đổi thay đáng kinh ngạc của Trung Quốc trong 90 năm qua.

2 – Mao đang nói chuyện trước một đám đông tại Đại học Kangdah Cave năm 1939, kêu gọi kháng chiến mạnh mẽ hơn nữa chống lại Quân đội Hoàng Gia Nhật. Bài nói chuyện này được thực hiện trong thời gian  cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ 2 (1937-1945), cuộc chiến tranh này chủ yếu là giữa Trung Hoa Dân Quốc và Đế chế Nhật Bản xâm lược.  Trước khi nổ ra cuộc chiến tranh này, Đảng Cộng sản Trung Quốc của Mao đã tiến hành một cuộc nội chiến chống Kuomingtang (KMT hoặc gọi theo tiếng Trung Quốc là Trung Hoa Quốc Dân Đảng) là đảng đã lật đổ nhà Thanh vào năm 1911 nhưng hai phe đã liên minh lại để thành lập một mặt trận thống nhất nhằm tống cổ người Nhật. Sau khi Nhật đầu hàng năm 1945 thì cuộc chiến giữa CCP và KMT lại nổ ra một lần nữa.

3 – Cộng quân đang tiến tới gần Thượng Hải hôm 21 tháng 5 năm 1949 trong cuộc Nội chiến Trung Quốc. Cuộc nội chiến này cuối cùng đã dẫn đến sự ly khai của Trung Hoa Dân Quốc (nay là Đài Loan) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã kéo dài – với sự gián đoạn vì cuộc chiến kháng Nhật từ năm 1927 – từ năm 1927 cho tới khi Mao tuyên bố thắng lợi trước lãnh tụ Tưởng Giới Thạch của Quốc Dân Đảng vào tháng 10 năm 1949. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 10 nsăm 1949.

4 – Từ trái sang phải: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev, Mao, và Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shaoqi], chủ tịch nước thứ hai của PRC, đang duyệt đội quân danh dự tại sân bay Bắc Kinh năm 1959 trong đợt kỷ niệm lần thứ 10 ngày thành lập PRC. Mối bất hòa Trung-Xô đang ngày càng khoét rộng ngay từ giai đoạn đó và trong lễ khai mạc Đại hội Đảng 22 tại Moscow năm 1961 Khrushchev đã gọi Trung Hoa Đỏ là “nhóm chống đảng” và những kiến thức “Sta-lin-nít” của họ đã chống lại Moscow.

5 – Mao và Lâm Bưu [Lin Biao], phó thủ tướng của PRC, đang diễu qua đám đông trên Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh năm 1966. Lâm Bưu sau này đã bị mất tích trong một tai nạn máy bay bí ẩn sau âm mưu cho người ám sát Mao.

6 – Thanh niên đang lấy tư thế để chụp ảnh trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản của Trung Quốc [thường gọi tắt là Cách Mạng Văn Hóa] năm 1967. Được bắt đầu vào năm 1966 và kéo dài cho tới khi Mao mất năm 1976, cuộc Cách mạng Văn hóa là một ý định nhằm thanh trừng chủ nghĩa tư bản ra khỏi xã hội Trung Quốc và nhất là để loại bỏ những người thuộc “giai cấp tư sản” đã thâm nhập vào CCP. Hậu quả thật thảm khốc: Hoạt động kinh tế bị nghừng trệ và những đối thủ chính trị của Mao bị thủ tiêu.

7 – Một dàn đồng ca của Hồng Quân Trung Quốc đang ca ngợi Mao Chủ tịch trong một buổi lễ ăn mừng vụ thu hoạch lúa mì năm 1967.

8 – Một đám đông đang hăng hái giơ cuốn “Cuốn sách nhỏ màu đỏ” để cổ vũ Mao tại sân vận động Bắc Kinh năm 1967. Đầu đề chính thức là Những lời trích dẫn Mao Chủ tịch, cuốn sách là một tuyển chọn những bài nói chuyện và trước tác về nhiều chủ đề liên quan đến tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Cuốn sách được coi là một biểu tượng của Cách mạng Văn hóa và nằm trong số những cuốn sách được in với số lượng nhiều nhất của mọi thời đại.

9 – Năm 1969, nông dân Trung Quốc ở vùng Hoằng Cảnh [Hungching] đang đọc to Mao tuyển. Chữ viết dưới chân dung của Mao Chủ tịch viết: “Kỷ niệm khai mạc thành công Đại hội Đảng lần thứ chín! Hãy phấn khởi học tập và làm theo lời dạy của Mao để hưởng ứng một sự kiện trọng đại mới.”

10 – Một tốp Hồng Vệ binh đang vui vẻ lấy tư thế cùng các dụng cụ làm ruộng trong một bức ảnh được đăng bởi hãng tin chính thức của Trung Quốc hồi năm 1971. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, Hồng Vệ Binh được giao nhiệm vụ bài trừ tập quán, văn hoá, thói quen và tư tưởng cũ, nhưng vào năm 1968 – sau một số cuộc đụng độ với Quân Giải phóng Nhân dân – Hồng Vệ Binh đã bị giải tán và bị đưa về các vùng nông thôn.

11 – Nông dân ở ngoại ô Bắc Kinh tới viếng Mao qua đời ngày 9 tháng 9 năm 1976 ở tuổi 82. Lễ truy điệu ông đã diễn ra trong tám ngày ở Bắc Kinh. Đám tang của ông được tổ chức tại Đại Lễ đường Nhân dân với sự tham dự của “cả thế giới,” theo tạp chí Time.

12 – Một cuộc mít tinh lớn của quân đội và nhân dân để bày tỏ sự ủng hộ dành cho Hoa Quốc Phong [Hua Guofeng] được bầu làm tổng bí thư của CCP. Hoa Quốc Phong, người kế tục do Mao chọn, đã nhậm chức vào ngày 6 tháng 10 năm 1976, nhưng sau đó đã bị lu mờ trước Đặng Tiểu Bình táo bạo và có hiểu biết hơn, người rút cục đã biến đổi đất nước Trung Quốc thành một cường quốc kinh tế theo hướng thị trường. Mặc dù vậy, thời gian  Hoa Quốc Phong làm việc trên cương vị người cầm lái CCP đã có những cải cách kinh tế và giáo dục mang tính ôn hòa tạo ra một cầu nối quan trọng giữa những năm tháng cuối cùng của Cách mạng Văn hóa chống tư bản của Mao và bước ngoặt bước vào nền kinh tế toàn cầu của Đặng Tiểu Bình.

13 – Triệu Tử Dương [Zhao Ziyang], một trong những kiến trúc sư chính của những cải cách thị trường tự do của Trung Quốc và là thủ tướng của Trung Quốc từ năm 1980 đến 1987. Bức ảnh được chụp vào năm đầu tiên ông làm thủ tướng.

14 – Triệu Tử Dương và lãnh tụ Cộng sản Tối cao Đặng Tiểu Bình đang hội ý tại Đại hội Đảng lần thứ 13 của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 10 năm 1987. Mặc dù Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ giữ chức nguyên thủ quốc gia – ông đồng thời là chủ tịch Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng và chủ tịch Quân ủy Trung ương – song sự tận tụy của ông đối với vấn đề thương mại quốc tế và tiến bộ công nghệ đã giúp ông trở thành người anh hùng của thời kỳ nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu.

15 – Hàng trăm nhà hoạt động là sinh viên đang đối mặt với cảnh sát trên Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh hôm 22 tháng 4 năm 1989. Các cuộc biểu tình vì dân chủ đã nổ ra sau khi Hồ Diệu Bang [Hu Yaoban], một quan chức của CCP bị sa thải vì đã ủng hộ công cuộc tự do do hóa chính trị, và chỉ bị dập tắt sau khi các đơn vị Quân Giải phóng Nhân dân đã tàn sát dã man hàng trăm, có thể là hàng nghìn sinh viên biểu tình trong tháng 6 năm 1989.

16 – Triệu Tử Dương nói chuyện với những sinh viên biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn chưa đầy một tháng trước khi xảy ra cuộc đàn áp dã man. Trong bài nói chuyện mang tính hòa giải của ông, ông đã cầu khẩn sinh viên chấm dứt tuyệt thực và đối thoại với chính phủ, đây là một dịp hiếm hoi đảng đã thú nhận những thất bại.”Mọi điều các bạn nói và chỉ trích chúng tôi đều là xứng đáng. Mục đích của tôi ở đây không phải là xin các bạn tha thứ,” ông nói trước khi đề nghị sinh viên hãy chấp nhận một bước đi cải cách mang tính thực tế hơn. “Nếu các bạn ngừng tuyệt thực, chính phủ sẽ không đóng lại cánh cửa đối thoại, dứt khoát không! Những gì các bạn đã đề xuất thì chúng ta có thể tiếp tục thảo luận.” Bài nói chuyện này đã khiến Triệu Tử Dương sớm ra khỏi ban lãnh đạo đảng và bị quản thúc tại gia trong suốt quãng đời còn lại.

17 – Tổng bí thứ Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân, người kế nhiệm Triệu Tử Dương, đang phát biểu tại đại hội Đảng lần thứ 14 hôm 12 tháng 10 năm 1992. Trong thời gian ông giữ chức vụ tổng bí thư từ năm 1989 đến 2002, Giang Trạch Dâmn đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo đưa Trung Quốc từ bỏ nền kinh tế quốc doanh chủ đạo của thời kỳ Mao để hướng tới một nền kinh tế thị trường có kế hoạch.

18 – Những con búp bê matryoshka truyền thống của Nga được vẽ chân dung những lãnh tụ Trung Quốc kể từ thời kỳ lật đổ nhà Thanh năm 1911. Từ trái qua phải: chủ tịch lâm thời của Trung Hoa Dân quốc Tôn Trung Sơn, lãnh tụ Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch, người sáng lập nước Trung Hoa cộng sản Mao Trạch Đông, lãnh tụ tối cao Đặng Tiểu Bình, và Chủ tịch Giang Trạch Dân.

19 – Hồ Cẩm Đào, tổng bí thư hiện nay của CCP, đang phát biểu trước các nhà lãnh đạo các nước tại một bữa tiệc đánh dấu ngày cuối cùng của Thế vận hội Olympic Bắc Kinh hôm 24 tháng 8 năm 2008. Hồ Cẩm Đào thay Giang Trạch Dân làm tổng bí thư vào năm 2002.

20 – Cựu chiến binh 94 tuổi Liu Jiaqi ứa nước mắt khi đội lên đầu chiếc mũ lưỡi trai tại một dịp kỷ niệm “Ôn lại cuộc Vạn lý Trường Chinh,” hôm 22 tháng 7 năm 2006. Vạn lý Trường Chinh  là một cuộc rút lui kéo dài một năm qua 8000 dặm của Hồng Quân Cộng sản bắt đầu từ năm 1934. Chính trong cuộc rút lui này mà nhiều nhà sáng lập PRC, trong đó có Mao, đã lên nắm quyền hành.

21 – Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo phát biểu tại Đại hội nhân dân toàn quốc lần thứ 11 tại Đại lễ đường Nhân dân hôm 5 tháng 3 năm 2010. Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

22 – “Khách du lịch đỏ” đang khua những lá cờ cộng sản trong một cuộc diễu hành tại một di tích đóng quân lịch sử của Hồng Quân ở gần Quuỳnh Hải [Qionghai] hôm 16 tháng 4 năm 2011. Sự khôi phục trở lại mối quan tâm tới những lý tưởng cách mạng của Mao bắt đầu từ chiến dịch kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của CCP – chỉ có điều hơi trớ trêu một chút – ấy là việc đẻ ra một cái nhãn hiệu du lịch mới mẻ sinh lời như thế này đã lại càng củng cố khuynh hướng ưa thích tư bản của đất nước Trung Quốc. Chỉ cần hơn 23 đô la bạn có thể tới thăm hàng chục di tích cách mạng ở Diên An [Yanan], một thành phố nhỏ của tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc và  được xem tái hiện chiến thắng của cộng sản đối với KMT với đầy đủ pháo binh, xe tăng và máy bay bốc cháy rơi từ trên trời xuống. Toàn bộ dự án này đã thu về 1,17 tỉ đô la chỉ trong năm ngoái.

23 – Các diễn viên múa đang biểu diễn tại buổi lễ kỷ niệm lần thứ 90 tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh hôm 28 tháng 6 năm 2011.

Ty McCormick là một nhà nghiên cứu thuộc ban biên tập của Foreign Policy.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

162. THẾ HỆ LÃNH ĐẠO MỚI CỦA TRUNG QUỐC SẼ CỨNG RẮN HƠN VỀ NGOẠI GIAO?

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 7, 2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

THẾ HỆ LÃNH ĐẠO MỚI CỦA

TRUNG QUỐC SẼ CỨNG RẮN

HƠN VỀ NGOẠI GIAO?

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 04/07/2011

TTXVN (Hồng Công 30/6)

Tạp chí Tham khảo Nước ngoài số ra tháng 7 của Hồng Công đăng bài của nhà nghiên cứu Hồ Lầp cho rằng trong bối cảnh sức mạnh quốc gia của Trung Quốc đang tăng lên, địa vị quốc tế được nâng cao, sách lược ngoại giao “giấu mình chờ thời” đã không còn đủ khả năng để ứng phó với các mối quan hệ quốc tế của Trung Quốc. Dẫn lời của Giáo sư Vương Kiện Vĩ, Chủ nhiệm khoa Chính quyền và Hành chính thuộc Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Ma Cao, tác giả dự đoán lãnh đạo thế hệ thứ năm của Trung Quốc ngoài việc phải đề ra chiến lược phù hợp hơn với tình hình Trung Quốc, cũng phải xem xét tới việc làm thế nào đẻ phát huy sức ảnh hưởng của Trung Quốc trên trường quốc tế. Vì thế, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc có thể sẽ có sự điều chỉnh nhất định về chính sách ngoại giao. Với những gì diễn ra vừa qua có thể các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ có những biểu hiện cứng rắn hơn. Dưới đây là nội dụng bài viết:

Vấn đề mới cho các nhà lãnh đạo: Điều chỉnh sách lược ngoại giao như thế nào

Sách lược “giấu mình chờ thời” được Đặng Tiểu Bình đề ra sau sự kiện Thiên An Môn ngày 4/6/1989 đã giữ chủ đạo phương châm ngoại giao của Trung Quốc trong thời đại Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, giúp Trung Quốc có được môi trường hoà bình để phát triển kinh tế. Nhưng, trong bối cảnh tình hình thế giới thay đổi và thực lực của Trung Quốc tăng lên, thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc chắc chắn sẽ phải xem xét lại sách lược “giấu mình chờ thời”.

Giáo sư Vương Kiện Vĩ chỉ rõ: Sách lược “giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình đã giúp Trung Quốc thành công trong việc gia nhập cộng đồng quốc tế do phương Tây làm chủ đạo, đồng thời dọn đường cho Trung Quốc trỗi đậy nhanh chóng. Sách lược ngoại giao thời Hồ Cẩm Đào tuy có thêm một số khái niệm mới như “thế giới hài hoà”, nhưng về tổng thể, mang tính kế thừa nhiều hơn là thay đổi và ít có tính tạo lập về mặt lý luận.

Tuy nhiên, trong một số vấn đề cụ thể, Hồ Cẩm Đào vẫn có những nét khác so với thời Giang Trạch Dân. Ví dụ: Hồ Cẩm Đào đã tương đối thành công trong chính sách đối với Đài Loan, thay đổi được cách làm cứng rắn, muốn thành công nhanh, thiên về cái lợi gần và định rõ thời gian biểu trước đây; trong quan hệ với Nhật Bản, nếu thời Giang Trạch Dân nhấn mạnh nhiều hơn tới vấn đề lịch sử, thời Hồ Cẩm Đào lại nhấn mạnh nhiều hơn tới sự vỗ về, hướng về phía trước và không đặt hy vọng vào việc giáo huấn Nhật Bản. Ngoài ra, trong việc ứng phó với vấn đề Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải), Trung Quốc cũng đã thực thi các biện pháp khác nhau. Tất cả cho thấy đã có một số thay đổi xảy ra (trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc).

Cho dù về đại thể Hồ Cẩm Đào vẫn tuân thủ phương châm “giấu mình chờ thời”, nhưng sự trỗi dậy của Trung Quốc lại là một sự thực rõ ràng và qua sự miêu tả của phương Tây, ba luận thuyết về sách lược ngoại giao của Trung Quốc đã xuất hiện, gồm “thuyết Trung Quốc cứng rắn”, “thuyết Trung Quốc ngạo mạn” và “thuyết Trung Quốc tất thắng”. Liên quan tới vấn đề này, trong buổi họp báo thuộc kỳ họp thường niên của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc năm 2010, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh Trung Quốc kiên trì đi theo con đường phát triển hoà bình, sự phát triển của Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng tới bất cứ quốc gia nào, cho dù trở thành nước phát triển, Trung Quốc cũng vẫn không xưng bá.

Theo Giáo sư Vương Kiện Vĩ, ba luận thuyết nêu trên ngoài việc phục vụ cho mục đích tuyên tryền của phương Tây, cũng phản ánh thực tế là trong bối cảnh sức mạnh quốc gia của Trung Quốc đang tăng lên, địa vị quốc tế được nâng cao, Trung Quốc cần phải có tư tưởng chiến lược mới và khung lý luận mới về ngoại giao. Cục diện và môi trường mà Trung Quốc phải đối mặt dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào là quá khác nhau, nên việc Trung Quốc điều chỉnh sách lược ngoại giao thế nào là một vấn đề mới phải đối mặt. Ở Trung Quốc đã có nhiều cuộc thảo luận về việc Trung Quốc nên tiếp tục “giấu mình chờ thời” hay phải tích cực tiến tới, có thái độ cứng rắn, thay đổi luật chơi. Nhưng Hồ Cẩm Đào ngay lập tức đã ngăn lại, không cho phép có sự thay đổi quá lớn. Do đó, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sau Đại hội 18 sẽ phải đối mặt với vấn đề và thách thức này, vào thời gian thích hợp sẽ phải xem xét đưa ra hành động sao cho tương ứng với sức mạnh quốc gia của Trung Quốc.

“Giấu mình chờ thời” đã không còn hợp thời

Sự xuất hiện của ba luận thuyết trên đều có liên quan tới những động thái mạnh mẽ của Trung Quốc trong các vấn đề như Mỹ – Hàn diễn tập quân sự ở Hoàng Hải, biến đổi khí hậu, đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là Senkaku) cũng như việc Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng, thử nghiệm tiêu diệt vệ tinh bằng tên lửa… Có lẽ vì thế, Giáo sư Vương Kiện Vĩ đã thẳng thắn nói rằng lý luận và hành vi ngoại giao của Trung Quốc đang tách rời nhau, gây ra phản ứng mạnh mẽ từ thế giới bên ngoài. Sau khi phản ứng này dội tới Bắc Kinh, Trung Quốc sẽ phải xem xét lại những gì đã xảy ra và có sự điều chỉnh. Do đó, ngoại giao Trung Quốc hiện đang trong trạng thái “chưa thay đổi, nhưng sắp thay đổi”. Một số thay đổi cụ thể của Hồ Cẩm Đào về cách làm ngoại giao cho thấy chiến lược dưới thời của Tập Cận Bình sẽ là “kiên trì giấu mình chờ thời, tích cực đóng góp”, trong đó hai chữ “tích cực” thể hiện sự chuyển biến theo thời cuộc.

Sở dĩ Trung Quốc nhiều năm kiên trì “giấu mình chờ thời” là do Trung Quốc sẽ theo đuổi trỗi dậy hoà bình. Nhưng thế giới bên ngoài có lúc cho rằng việc Trung Quốc “giấu mình chờ thời” thực ra chỉ là kế sách tạm thời, thậm chí còn nói đó là “mối nguy hiểm tiềm tàng”. Theo Giáo sư Vương Kiện Vĩ, “giấu mình chờ thời” đã không có nhiều tác dụng tích cực đối với việc Trung Quốc tuyên bố thực thi chính sách ngoại giao hoà bình. Giáo sư Vương Kiện Vĩ cho rằng thực lực của một quốc gia sẽ quyết định chính sách của nước ấy. Khi Trung Quốc còn yếu, việc thực thi sách lược “giấu mình chờ thời” là lỗi thời. Có thể nói sách lược “giấu mình chờ thời” cơ bản đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó.

Vì vậy, nếu như sức mạnh quốc gia của Trung Quốc tiếp tục được tăng cường, sau khi lên nắm quyền, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ kkhông thể né tránh việc đưa ra quan niệm ngoại giao mới. Vì cùng với sự trỗi dậy, phạm vi lợi ích mà Trung Quốc theo đuổi sẽ không ngừng mở rộng và sẽ bao phủ toàn cầu. Nếu Tập Cận Bình giống như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào hoạt động trong khung (sách lược “giấu mình chờ thời”) của Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo này sẽ gặp nhiều khó khăn.

Nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc ngoài việc phải đề ra chiến lược phù hợp với tình hình Trung Quốc, cũng phải xem xét tới việc làm thế nào để phát huy sức ảnh hưởng của Trung Quốc trên trường quốc tế. Rốt cuộc, cùng với sự nâng lên về địa vị quốc tế của Trung Quốc, kỳ vọng của nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc đối với đất nước sẽ tăng theo, đồng thời những lời kêu gọi Trung Quốc gánh vác trách nhiệm quốc tế lớn hơn cũng sẽ không ngừng tăng lên.

Giáo sư Vương Kiện Vĩ cho biết so với 20 năm, 30 năm trước, sức mạnh quốc gia của Trung Quốc đã thay đổi hoàn toàn, nhưng ngoại giao của Trung Quốc lại dường như không trở nên chủ động hơn, ngược lại có ngày càng bị động và khó khăn. Do đó, việc Trung Quốc phải làm thế nào để chuyển hoá sức mạnh quốc gia ngày càng tăng thành sức ảnh hưởng về ngoại giao, quyền phát ngôn trong quan hệ với thế giới và năng lực hình thành luật chơi quốc tế, là vấn đề cần phải suy nghĩ.

Giáo sư Vương Kiện Vĩ dự đoán sau khi lên nắm quyền, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc có thể sẽ có sự điều chỉnh nhất định về chính sách ngoại giao. Điều chỉnh này sẽ như thế nào? Xem xét những gì diễn ra vừa qua, có thể nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ có những biểu hiện cứng rắn hơn, thái độ của nhà lãnh đạo mới đối với các vấn đề như phương Tây can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia của Trung Quốc sẽ rõ ràng hơn so với thế hệ lãnh đạo của Hồ Cẩm Đào.

***

Trang web của tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 28/6 đăng bài của nhà phân tích độc lập Trung Quốc Chu Tuệ Lai cho biết mấy năm trở lại đây, đặc biệt kể từ khi tranh chấp chủ quyền lãnh thổ biển với hạt nhân là vấn đề Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) không ngừng nóng lên, người ta cũng không ngừng tranh cãi về ngoại giao “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc. Trong cộng đồng quốc tế, ngày càng có nhiều người cho rằng trên thực tế Trung Quốc đã từ bỏ nguyên tắc ngoại giao này và bước vào thời đại ngoại giao hậu “giấu mình chờ thời”. Nhưng ở Trung Quốc, các cuộc tranh luận rằng có nên tiếp tục “giấu mình chờ thời” hay “phải có hành động” vẫn liên tục diễn ra. Thực tế này phản ánh việc Trung Quốc đang phải đối mặt với sự đấu tranh ngày một quyết liệt giữa một bên là trỗi dậy hoà bình và bên kia là bảo vệ lợi ích quốc gia. Việc xử lý mối quan hệ này thế nào trước tiên phải xem xét toàn diện ngoại giao “giấu mình chờ thời”.

Nội hàm hoàn chỉnh của ngoại giao “giấu mình chờ thời”

“Giấu mình chờ thời” được Đặng Tiểu Bình đưa ra vào những năm 1990 nhằm đối phó với tình hình quốc tế. Đứng trước tình hình bất ổn xuất hiện khi Đông Âu diễn ra sự thay đổi lớn, phe xã hội chủ nghĩa tan rã, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra phương châm “bình tĩnh quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời”. Khi đưa ra tư tưởng này, Đặng Tiểu Bình còn nhấn mạnh “quyết không đi đầu”. Trên thực tế, hàm nghĩa chính sách cụ thể của “giấu mình chờ thời” chính là “quyết không đi đầu”, không ham hố địa vị lãnh tụ phe xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô để lại.

Do Liên Xô tranh giành địa vị bá chủ với Mỹ và xây dựng phe xã hội chủ nghĩa đối lập với các nước phát triển Âu – Mỹ (sau đó rơi vào thảm cảnh), nên nội hàm cốt lõi của ngoại giao “giấu mình chờ thời” do Đặng Tiểu Bình đưa ra được thể hiện trên hai phương diện: Không thách thức bá quyền Mỹ và không thách thức hệ thống quốc tế. Lâu nay, cộng đồng quốc tế và trong nước Trung Quốc có nhiều người giải thích “giấu mình chờ thời” là chiến lược ngoại giao của Trung Quốc. Nếu xem xét từ khía cạnh không thách thức bá quyền Mỹ và không thách thức hệ thống quốc tế, “giấu mình chờ thời” kỳ thực có thể đạt tới tầm chiến lược. Nhưng, muốn lý giải một cách hoàn chỉnh ngoại giao “giấu mình chờ thời”, cần phải nắm chắc nội hàm quan trọng của hai phương diện sau:

Thứ nhất, “giấu mình chờ thời” là một sách lược Đặng Tiểu Bình sử dụng để vỗ về phái cực tả trong nước. Khi Đặng Tiểu Bình đề xướng ngoại giao “giấu mình chờ thời”, phái cực tả ở Trung Quốc đang cổ xuý mạnh mẽ cho thuyết cách mạng thế giới và luôn miệng nhắc tới vấn đề xuất khẩu cách mạng. Việc này đi ngược với cái gọi là đại chiến lược ngoại giao cách mạng và cải cách mở cửa. Khi Trung Quốc bắt đầu cải cách mởi cửa vào những năm cuối của thập niên 1970, đối tượng của mở cửa không phải là toàn bộ thế giới theo nghĩa rộng mà chỉ là thế giới của những nước phát triển lấy Mỹ làm hạt nhân. Nếu sau khi Liên Xô tan rã, Chiến tranh Lạnh kết thúc, Trung Quốc xuất đầu lộ diện làm cái gọi là lãnh tụ phe xã hội chủ nghĩa, chiến lược cải cách mở cửa sẽ bị gián đoạn. Do đó, ngoại giao “giấu mình chờ thời” mà Đặng Tiểu Bình đưa ra về thực chất là nhằm vỗ về phái cực tả, giảm thiểu sự quấy nhiễu của họ đối với cải cách mở cửa.

Thứ hai, “giấu mình chờ thời” từ trước tới nay không mâu thuẫn với việc bảo vệ lợi ích quốc gia, thậm chí xem xét ở góc độ ý nghĩa căn bản, người ta sẽ thấy mục đích của “giấu mình chờ thời” là nhằm bảo vệ và thực hiện tốt hơn lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, việc tiến hành cải cách mở cửa, gia nhập cộng đồng quốc tế và phát triển kinh tế chính là lợi ích quốc gia lớn nhất mà tiền đề của nó chính là việc thực hiện ngoại giao “giấu mình chờ thời”, không thách thức bá quyền Mỹ và không thách thức hệ thống quốc tế.

Như vậy, xem xét về mặt bản chất, ngoại giao “giấu mình chờ thời” không có nghĩa Trung Quốc phải giữ tư thế thấp trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia của mình, càng không có nghĩa là từ bỏ lợi ích quốc gia. Nếu cho rằng vì kiên trì ngoại giao “giấu mình chờ thời”, giảm bớt những nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế mà không dám bảo vệ lợi ích tự thân, thì đó chính là cách lý giải phiến diện về “giấu mình chờ thời”. Đặng Tiểu Bình đã hơn một lần nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ chịu ăn quả đắng tổn hại lợi ích quốc gia của mình. Trong vấn đề bảo vệ lợi ích quốc gia, Đặng Tiểu Bình luôn cứng rắn. Điều đó được thể hiện qua cuộc chiến phản kích tự về năm 1979 với Việt Nam, trong đàm phán với Anh liên quan đến vấn đề trao trả Hồng Công.

Nhiều năm lại đây, ngoại giao “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc đã quán triệt tương đối tốt chiến lược không làm kẻ thù của Mỹ, không thách thức hệ thống quốc tế, nhưng lại đối mặt với những khó khăn mang tính kỹ thuật trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia không ngừng mở rộng. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến ngoại giao Trung Quốc nhiều lần rơi vào bị động. Muốn thay đổi tình trạng này, Trung Quốc cần phải bắt tay thực hiện ba phương diện sau:

Một là, đề ra đại chiến lược trỗi dậy rõ ràng đúng đắn, loại bỏ nghi ngại từ cộng đồng quốc tế. Trong quá trình bảo vệ lợi ích tự thân, trở lực lớn nhất đối với Trung Quốc đến từ sự nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế. Khi Mỹ coi việc Trung Quốc bảo vệ lợi ích là hành động thách thức địa vị bá quyền của Mỹ, khi cộng đồng quốc tế coi việc Trung Quốc bảo vệ lợi ích là hành động thách thức hệ thống quốc tế, khi sự nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế kết hợp với nhau, cục diện bảo vệ lợi ích tự thân của Trung Quốc sẽ trở nên phức tạp hoá. Xem xét từ khía cạnh này, trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc phải xác lập một đại chiến lược phát triển đất nước đúng đắn và tương đối minh bạch. Đại chiến lược này phải lấy chủ nghĩa tự do làm chỉ đạo, hợp tác với cộng đồng quốc tế làm tiền đề, thực thi trách nhiệm quốc tế làm đòn bẩy, để giảm bớt nghi ngại của Mỹ và cộng đồng quốc tế đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Hai là, tranh thủ quyền phát ngôn. Ở đây tồn tại một vấn đề mang tính nghịch lý là tuy đề ra ngoại giao “giấu mình chờ thời” và thực thi nó, nhưng Trung Quốc lại không có quyền phát ngôn để nói rõ và giải thích về nguyên tắc ngoại giao này. Do không có quyền phát ngôn, Chính phủ và giới học giả Trung Quốc luôn bị động trong việc đối phó với những chất vấn từ dư luận, cộng đồng quốc tế, thường xuyên trong cảnh càng phân bua càng bị nghi ngờ. Ví dụ: thuyết “Trung Quốc trách nhiệm” mâu thuẫn với những kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với ngoại giao “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc. Bởi đã muốn thực thi trách nhiệm thì phải có hành động dưới tiền đề bảo vệ và thực hiện lợi ích tự thân. Nhưng mỗi khi Trung Quốc nỗ lực thực thi trách nhiệm, cộng đồng quốc tế thường nảy sinh nghi ngờ về động cơ của Trung Quốc. Hiện nay cái mà Trung Quốc cần làm là thiết lập quyền phát ngôn của mình trên ba phương diện: định nghĩa rõ “giấu mình chờ thời”, định nghĩa rõ “trỗi dậy hoà bình” và định nghĩa rõ “trách nhiệm Trung Quốc”.

Ba là, bồi dưỡng sự tự tin nước lớn. Một thách thức quan trọng hiện nay mà Trung Quốc đang phải đối mặt là vấn đề nhận thức của cộng đồng quốc tế. Ví dụ: đối với các sự vụ xung quanh, cho dù Trung Quốc nói gì, làm gì và cách làm đó của Trung Quốc là hợp tình hợp lý, nhưng cộng đồng quốc tế đều có khuynh hướng nhìn nhận tiêu cực. Đối mặt với sự nghi ngờ của cộng đồng quốc tế, hành vi ngoại giao của Trung Quốc thường trở nên “sợ bóng sợ gió”, chần chừ do dự, kết quả là bỏ lỡ thời cơ mà vẫn không thể loại bỏ nghi ngờ của cộng đồng quốc tế. Muốn kiên quyết bảo vệ lợi ích tự thân, Trung Quốc phải loại bỏ sự gây nhiễu của các loại nghi ngờ. Thời gian sẽ giải quyết tất cả. Trong tiến trình trỗi dậy, nước lớn và cộng đồng quốc tế đều có một quá trình điều chỉnh thích hợp với nhau. Nước lớn phải thích ứng với sự lo lắng và sợ hãi ở một mức độ nhất định của cộng đồng quốc tế, cộng đồng quốc tế cuối cùng cũng phải thích ứng với những chấn động và tác động nhất định gây ra bởi sự trỗi dậy của nước lớn đó. Trên thực tế, nước lớn nếu không có sự tự tin, sự lo ngại của cộng đồng quốc tế sẽ ngày càng thêm trầm trọng.

Cùng với sự tăng cường của sức mạnh quốc gia và sự mở rộng về lợi ích quốc gia, việc Trung Quốc có thể xem xét một cách toàn diện và nắm vững toàn bộ nội hàm ngoại giao “giấu mình chờ thời” hay không có quan hệ trực tiếp tới sự ổn định của cộng đồng quốc tế và trực tiếp hơn là lợi ích của Trung Quốc. Xem xét từ kinh nghiệm lịch sử, cộng đồng quốc tế sẽ càng chú ý hơn tới kết quả trỗi dậy của Trung Quốc, chứ không dừng lại ở phương thức trỗi dậy. Đối với Trung Quốc, trỗi dậy là mục đích, ngoại giao “giấu mình chờ thời” là biện pháp. Trung Quốc tuyệt đối không được lý giải và thực hiện một cách cứng nhắc ngoại giao “giấu mình chờ thời”, để rơi vào cạm bẫy “trỗi” nhưng không “dậy”.

***

Vừa qua, trang web của tờ báo này cũng đăng bài của phó Giáo sư Trương Vân thuộc Đại học Niigata (Nhật Bản) cho biết ngày 8/6, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo Ngoại trưởng Libi Abdelati Obeidi đã đến Bắc Kinh gặp gỡ người đồng cấp phía Trung Quốc Dương Khiết Trì. Trước đó không lâu, phía Trung Quốc cũng lên tiếng chứng thực thông tin về việc quan chức ngoại giao nước này tới thành phố Benghazi ở miền Đông Libi hội đàm với lãnh đạo phong trào vũ trang chống chính phủ ở Libi. Đây có thể là lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao, Trung Quốc tiếp xúc đồng thời với cả chính phủ nước ngoài đương nhiệm lẫn thế lực chống lại chính phủ đó. Nó đánh dấu việc ngoại giao Trung Quốc trên thực tế đã nới lỏng nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vẫn kiên trì lâu nay.

Mâu thuẫn giữa toàn cầu hoá lợi ích và nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” của Trung Quốc

Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” đã trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của ngoại giao Trung Quốc. Đầu những năm 1980, một lần nữa Trung Quốc đã định vị rõ ràng chính sách ngoại giao của nước này là độc lập tự chủ và hoà bình, trong đó “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” được đặc biệt nhấn mạnh. Việc nhất quán theo đuổi nguyên tắc này đã tạo ra những đóng góp khá lớn giúp Trung Quốc có được hình ảnh đạo nghĩa trên trường quốc tế. Từ khi thực hiện chính sách cải cách mở cửa, trọng tâm công tác của Trung Quốc chuyển sang lĩnh vực xây dựng kinh tế, nhờ nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác”, Trung Quốc có được lý do hợp lý và đạo nghĩa để giảm thiểu tới mức thấp nhất khả năng bị cuốn vào các sự vụ quốc tế. Ở một mức độ nào đó, các hoạt động kinh tế đối ngoại của Trung Quốc đã được triển khai một cách tương đối tự do trên nguyên tắc ngoại giao này.

Tuy nhiên, sau 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Lợi ích quốc tế của Trung Quốc đã phủ khắp toàn cầu. Nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vốn giúp Trung Quốc tránh bị cuốn vào những phiền toái rắc rối đã bắt đầu gây trở ngại cho nước này trong việc bảo vệ lợi ích của mình. Thực tiễn ngoại giao cho thấy mấy năm lại đây, Trung Quốc đã dần dần có sự đột phát về cách làm trước đây – kiên trì nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” một cách giáo điều.

Tại châu Phi, Xuđăng là ví dụ điển hình. Trung Quốc đầu tư phát triển 40% giếng dầu ở Xuđăng và khoảng 60% lượng dầu thô xuất khẩu của Xuđăng là bán cho Trung Quốc. Nhưng các khu sản xuất dầu của Xuđăng chủ yếu phân bố ở miền Nam nước này. Trong khi đó, do các nguyên nhân về chủng tộc và tôn giáo, từ lâu miền Nam Xuđăng là nơi hoạt động của phong trào vũ trang đòi độc lập. Hai năm lại đây, phong trào vũ trang đòi độc lập ở miền Nam ngày một lớn mạnh. Năm 2010, Chính phủ Xuđăng đành phải đồng ý để người dân miền Nam nước này bỏ phiếu tự quyết định vận mệnh. Vào tháng 2 năm nay, cuộc bỏ phiếu này đã được tổ chức. Kết quả là 99% người dân miền Nam Xuđăng ủng hộ việc độc lập xây dựng quốc gia riêng. Chính phủ miền Bắc đã thừa nhận kết quả này.

Theo nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác”, lâu nay Trung Quốc giữ được mối quan hệ tốt đẹp với Chính phủ Xuđăng. Nhưng hiện thực Xuđăng sẽ bị phân chia thành hai quốc gia chủ quyền sẽ ảnh hưởng tới lợi ích thực tế của Trung Quốc tại nước này và những chuyển động thực tế trong hai năm qua của Trung Quốc tại Xuđăng có thể nói là thiết thực. Quan chức Trung Quốc đã nhiều lần tới thăm Nam Xuđăng. Lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Nhân dân Xuđăng ở miền Nam cũng hai lần tới thăm Bắc Kinh. Theo thông tin đăng tải, Đặc sứ châu Phi của Trung Quốc Lưu Quý Kim từng lên tiếng kêu gọi Chính phủ Xuđăng để người dân miền Nam nước này tiến hành bỏ phiếu quyết định vận mệnh của mình đúng thời hạn.

Tại châu Á, Mianma có thể là ví dụ điển hình. Năm ngoái, sau khi quân Chính phủ Mianma xung đột vũ trang với dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước này, khoảng 30.000 người tị nạn Mianma đã tràn sang Trung Quốc lánh nạn. Những hạng mục hợp tác lớn cho dù là về năng lượng hay thuỷ lợi giữa Trung Quốc và Mianma đều không được thực hiện ở thủ đô Mianma, mà phần lớn nằm ở khu vực dân tộc thiểu số. Nếu Trung Quốc không xây dựng được quan hệ tốt đẹp tương ứng với những khu vực dân tộc thiểu số này, lợi ích của Trung Quốc có thể bị tổn hại bất cứ lúc nào. Theo thông tin đăng tải, lãnh tụ dân tộc thiểu số địa phương Mianma đã bày tỏ hi vọng rằng Trung Quốc sẽ tích cực điều đình quan hệ giữa họ với Chính phủ Mianma. Cho dù về mặt chính thức, Trung Quốc không có dấu hiệu can dự vào việc điều đình quan hệ giữa phong trào độc lập dân tộc thiểu số Mianma với Chính phủ Mianma, nhưng giới truyền thông đã đưa tin về việc lãnh đạo phong trào độc lập dân tộc thiểu số từng tới thăm Trung Quốc vào năm 2010. Nếu thông tin này là có thực, nó càng làm sáng tỏ khuynh hướng thiết thực của ngoại giao Trung Quốc.

Sự sáng tạo trí tuệ của quan niệm ngoại giao khắc phục khó khăn

Trung Quốc đương nhiên có lý do và nghĩa vụ tiếp tục duy trì nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vì đây là chuẩn tắc cơ bản của Luật quốc tế, của Hiến chương Liên hợp quốc và của quan hệ quốc tế hiện đại. Những thách thức hiện nay không nằm ở chỗ nên hay không nên từ bỏ nguyên tắc này mà là duy trì nó như thế nào. Rất rõ ràng, kiểu duy trì nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” một cách tuyệt đối như trước đây kông còn thích hợp với lợi ích quốc tế, cũng không thích hợp với địa vị quốc tế hiện nay của Trung Quốc. Những người thực hiện chính sách ngoại giao của Trung Quốc đã có bước thay đổi dần dần theo kiểu “ném đá dò đường qua sông”. Nhưng Trung Quốc chưa có sự chuẩn bị tốt về mặt quan niệm ngoại giao. Trong lĩnh vực nhận thức và lý luận, ngoại giao Trung Quốc phải trả lời và đối mặt một cách bình tĩnh với một vấn đề nhạy cảm, đó là nhìn nhận như thế nào về vấn đề nội chiến cũng như vấn đề li khai của nước khác.

Đối với Trung Quốc, hai vấn đề này quá nhạy cảm. Các thế lực chủ trương độc lập Tân Cương, Tây Tạng vẫn luôn là căn nguyên quan trọng trong nhân tố gây bất ổn định ở Trung Quốc. Vấn đề Đài Loan thuộc lợi ích cốt lõi lại càng liên quan trực tiếp tới sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và thống nhất đất nước. Cũng vì liên quan tới các vấn đề này, Trung Quốc đã giữ thái độ tiêu cực khi phản ứng trước các cuộc nội chiến và li khai xảy ra ở các nước khác thời hậu Chiến tranh Lạnh. Ví dụ rõ ràng nhất là việc Trung Quốc không thừa nhận Côxôvô sau khi vùng lãnh thổ này tuyên bố độc lập vào năm 2007. Xuđăng sắp tới sẽ phân chia thành hai quốc gia chủ quyền. Trung Quốc sẽ bày tỏ thái độ ra sao, đây là vấn đề rất đáng quan tâm chú ý. Ngoài ra, cuộc nội chiến Libi vẫn tiếp tục, không loại trừ khả năng giằng co lâu dài, cho dù nhà lãnh đạo Gaddafi có ra đi hay không, Libi trong tương lai cũng có thể phải đối mặt với nguy cơ phân chia thành hai quốc gia.

Hiện thực quan hệ quốc tế cho thấy li khai đã trở thành một trong những lựa chọn hiện thực mà những nước bị thực dân phương Tây và cục diện Chiến tranh Lạnh hoạch định đường biên giới, sau đó rơi vào nội chiến do các nhân tố như tôn giáo, dân tộc, phải đối mặt. Hiện thực này bắt đầu được coi trọng. Là một nước lớn đang trỗi đậy và có lợi ích toàn cầu ngày một tăng, việc Trung Quốc sẽ tỏ thái độ như thế nào không chỉ liên quan đến lợi ích hiện thực của Trung Quốc, mà còn liên quan tới trách nhiệm đạo nghĩa của nước này.

Cách sử dụng nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” để né tránh tỏ thái độ vì lo ngại sẽ đụng chạm tới vấn đề trong nước của Trung Quốc đã rơi vào tình trạng ngày càng khó khăn. Trên thực tế, tính chất hoạt động li khai ở Trung Quốc hoàn toàn không giống với hoạt động li khai ở nhiều nước. Lịch sử giao lưu tiếp xúc lẫn nhau giữa các dân tộc Trung Quốc rất dài, tư tưởng đại thống cũng có nền tảng dân chúng rất mạnh. Sức hấp dẫn tạo ra từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc lớn hơn rất nhiều so với sức kích động của các thế lực li khai. Cho nên, Trung Quốc không cần phải quá lo lắng. Nếu do lo lắng tác động tới vấn trong nước mà bỏ lời thời cơ bày tỏ thái độ về mặt ngoại giao, rất có khả năng Trung Quốc sẽ phải đối mặt với rủi ro rơi vào tình trạng bị động về ngoại giao, lợi ích bị tổn hại và uy tín quốc tế bị giảm xuống sau khi xuất hiện thay đổi lớn.

Nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” vẫn phải kiên trì, nhưng tuyệt đối không được giáo điều hoá, đây vừa là yêu cầu thực tế vừa là biểu hiện cụ thể về trách nhiệm quốc tế của Trung Quốc. Nhưng làm sáng tỏ nó và kiên trì ở mức độ như thế nào lại cần tới sức sáng tạo trí tuệ về mặt quan niệm ngoại giao./.

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

161. LÀM SỐNG LẠI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI GÂY HẤN, TRUNG QUỐC ĐANG CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 7, 2011

Foreign Policy

LÀM SỐNG LẠI CHÍNH SÁCH

ĐỐI NGOẠI GÂY HẤN,  TRUNG QUỐC

ĐANG CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ   

Dan Blumenthal

Đăng trên tạp chí của Viện AEI số tháng 4/2011

Vì sao 3 năm trở lại đây chính sách đối ngoại của TQ lại trở nên hung hăng hơn ? Tại sao TQ lại hủy hoại  thái độ hữu hảo với láng giềng đã thực thi một thập kỷ qua ?  Chứng cứ thì bây giờ đã quá rõ. Tại Đông Nam Á, TQ tuyên bố biển Nam Trung hoa ( biển Đông – ND ) thuộc “ lợi ích cốt lõi” của mình ( ngôn từ mà trước đây chỉ áp dụng cho Đài loan và Tibet) tức là về thực chất TQ xác định toàn bộ biển Đông là lãnh thổ Trung hoa. Một điểm cần lưu ý là TQ thường xuyên quấy rối , cướp phá các tàu đánh cá của Việt nam gần khu vực các đảo đang tranh chấp.

Ở biển  Đông- Bắc,  TQ đã không lên án đồng minh Bắc Triều tiên vì hành động ngỗ ngược gây hấn giết hại binh lính và thường dân Nam hàn trong hai vụ pháo kích năm ngoái. TQ cũng đụng độ với Nhật bản và sau khi Tokyo ngầm chấp nhận yêu cầu của Bắc kinh phóng thích viên thuyền trưởng tàu đánh cá đã đâm vào tàu của Nhật trong vùng lãnh hải có tranh chấp , TQ đã tạm đình chỉ  quan hệ ngoại giao , yêu cầu phía Nhật phải xin lỗi,  đồng thời ngưng việc xuất khẩu đất hiếm cho Tokyo. Và sau cùng là cách tiếp đón xoàng xĩnh dành cho Tổng thống  Hoa kỳ Obama năm 2009 . Phải nói rằng chưa có tổng thống Mỹ nào khi lên nhậm chức lại giang tay chào đón Bắc kinh như Obama. Ngoại trưởng Hoa kỳ lúc đó đã hạ giọng về vấn đề chỉ trích tình trạng ngược đãi nhân quyền , Obama đã lùi cuộc gặp Đức Dalai Lama  – một giao tiếp có tính chuẩn mực của ngoại giao Hoa kỳ và hoãn việc bán lô vũ khí đã được Tổng thống Bush hứa trước đó cho Đài loan. Trong chuyến thăm đầu tiên của Obama đến TQ , Bắc kinh đã bội ước về thỏa thuận phát sóng bài phát biểu của Tổng thống trên truyền hình mà không có kiểm duyệt và Tổng thống Obama trở về Washington mà không hoàn thành chương trình nghị sự của chuyến đi , từ vấn đề biến đổi khí hậu cho tới bàn thảo việc thao túng đồng nhân dân tệ của Bắc kinh.

Sự kết hợp giữa quyền lực quân sự nhiều hơn với một ban lãnh đạo yếu và chủ nghĩa dân tộc đáng lo ngại là những vấn đề mang tính hệ thống . Trong một lúc nào đó ,có lẽ chúng đã trở thành những đường nét cơ bản của bức tranh ngoại giao TQ.

 

Có thể giải thích thái độ thô bạo của TQ trên trường quốc tế bằng một công thức gồm 3 yếu tố : quyền lực của cánh quân sự nhiều hơn kết hợp với một ban lãnh đạo yếu và chủ nghĩa dân tộc bài ngoại được lãnh đạo chủ ý tạo ra ( tôi không đề cập đến quan điểm của một số người ở TQ cho rằng nước Mỹ đang trên đà suy yếu bởi lẽ những suy nghĩ đó chỉ mang tính nhất thời )  .

Quyền lực của cánh quân sự mạnh hơn

 

TQ hiện nay có một lực lượng quân sự rất mạnh, đủ để gây sức ép lên các quốc gia lân bang. Những vụ thể hiện sức mạnh hải quân trên biển Đông được tính toán nhằm thị uy các nước yếu hơn. Thực tế là khi Việt nam vừa lên tiếng phản đối những yêu sách của TQ

thì truyền thông nhà nước TQ đã lên tiếng cảnh báo các quốc gia Đông Nam Á không nên quan hệ gần gũi với Hoa kỳ hơn . Cũng giống như chiến lược hăm dọa đang áp dụng đối với Đài loan, quân giải phóng nhân dân TQ đã điều chuyển một lữ đoàn tên lửa tầm ngắn để  đưa Việt nam vào  mục tiêu . Nhớ lại lần TQ tấn công Việt nam năm 1979 vì Hà nội dám gan dạ chọc tức họ , khi đó TQ đã vung nắm đấm cho tất cả  đều biết.

Chính sách mới hiện nay của TQ là thể hiện ra cho thế giới thấy những kỹ năng quân sự thành thạo của mình  thay vì giấu giếm chúng , điều này đã được thấy rõ qua chuyến viếng thăm TQ của bộ trưởng quốc phòng Mỹ hồi đầu năm . Trước đó không lâu , quân giải  phóng nhân dân TQ đã công khai trình diễn khả năng về tên lửa đạn đạo chống hạm của mình. Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái bình dương , đô đốc Willard đã xác nhận rằng tên lửa đã đạt tới “ khả năng thiết kế ban đầu “ . Các nhà lãnh đạo TQ đã không che dấu ý đồ phô diễn loại máy bay chiến đấu tàng hình J- 20 nhân chuyến thăm của bộ trưởng Gate. Nói tóm lại, TQ có nhiều sức mạnh và đang sử dụng chúng để theo đuổi các quyền lợi dân tộc của mình.

 Một ban lãnh đạo yếu

Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã chứng tỏ là những nhà lãnh đạo yếu , không có khả năng ra các quyết định cải cách kinh tế mạnh mẽ và cũng không thể điều hành toàn thể Bộ chính trị thực hiện đúng đường lối “ ẩn mình, chờ thời” của Đặng tiêu Bình. ( nghĩa là không đánh động thiên hạ hình thành những liên minh trước một TQ ngày một  lớn mạnh ). Thế nhưng đó không chỉ là vấn đề của một vài lãnh đạo yếu mà là cả hệ thống cầm quyền yếu. Hiện nay ở TQ không còn ai có đủ cái uy của thế hệ cách mạng lão thành như Đặng tiểu Bình hoặc có đủ tư cách “ chống tay”(  theo lối chơi bóng chày – ND) như Đặng đã làm cho Giang Trạch Dân trước đây. Và do đó quốc gia độc đảng này  được lãnh đạo bởi sự đồng thuận mà trong đó không một ủy viên Bộ chính trị nào vượt trội về quyền lực và uy tín. Các quyết định do đó có vẻ như được ra đời trong sự dao động từ xu hướng hoàn toàn chống những gì bị coi là rủi ro ( chẳng hạn như bắc Triều tiên và cải cách kinh tế ) tới trào lưu bị tác động bởi chủ nghĩa dân tộc, thể hiện qua các “ cư dân cộng đồng mạng” và tầng lớp trí thức tinh túy (  qua những vụ việc  om xòm  ở biển Nam Trung hoa và Nhật bản đã được nêu ở phần trên). Do hệ thống lãnh đạo yếu nên cánh quân đội  có xu hướng diều hâu đã chiếm ưu thế trong quá trình ra quyết định trong khi các thành viên khác lại chủ yếu chỉ quan tâm tới các vấn đề cải cách kinh tế.

Chủ nghĩa dân tộc bài ngoại

 

Nhiều nhà quan sát tình hình TQ đều nhận định rằng chủ nghĩa dân tộc ( Đại Hán – ND ) thường được thể hiện bởi cộng đồng sử dụng internet và giới trí thức có vai trò quan trọng đối với chính sách ngoại giao TQ. Sẽ không sai lầm khi nhận định TQ đang ngồi trên lưng một con hổ do chính mình tạo ra . Từ sau sự kiện đàn áp đẫm máu trên quảng trường Thiên an môn năm 1989 các cơ quan của ĐCS đã triển khai một chiến dịch “giáo dục lòng yêu nước’ nhấn mạnh hai điểm cơ bản , đó là tính ưu việt của văn hóa Trung hoa và nỗi nhục do các cường quốc đế quốc  như Mỹ và Nhật gây ra. Nói chuyện với lớp người ở độ tuổi 20-30 thế nào bạn cũng nghe thấy luận điểm về kế hoạch chung của Mỹ- Nhật kiềm chế TQ và chia cắt Đài loan, Tây tạng ( Tibet – ND) và Tân cương khỏi TQ cũng như vị thế tự nhiên của TQ phải ở “ đỉnh cao nhất” trong hệ thống thứ bậc các dân tộc Châu Á. Đáng buồn đó lại chính là những người được học hành và được coi như đã “Tây hóa” mà Hoa kỳ trong tính toán của mình vẫn nghĩ rằng họ sẽ góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước CHND Trung hoa.  Rất nhiều người trẻ tuổi TQ chưa hề được nghe nói về cuộc đàn áp đẫm máu Thiên An môn và họ  tin  rằng chính sách của Mỹ luôn đặt mục tiêu kìm hãm TQ ( kể cả cuộc chiến ở Afganistan cũng nhằm mục đích này ! ) , và rằng nền dân chủ ở Đài loan là minh chứng cho một nền chính trị hỗn loạn , đồng thời họ bực tức về người dân Tây Tạng ( cho dù nhiều người thuộc dân tộc này bị tàn sát hoặc tù đày

trong báo cáo được thực hiện ba năm sau cuộc đàn áp) tỏ ra không biết ơn Bắc kinh đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nơi đây.

Nếu tầng lớp trí thức tinh hoa TQ đang nuôi dưỡng một thế giới quan như vậy thì ai cũng có thể tưởng tượng được những người “ bị thiệt thòi” trong phát triển kinh tế sẽ tin vào những điều gì . Và nếu tính đến hàng chục triệu đàn ông dôi dư , hậu quả của chính sách một con và tập quán chỉ muốn đẻ con trai thì tình hình sẽ ra sao ?  Những người này sẽ ở đáy của cấu trúc giai tầng kinh tế- xã hội , không có hy vọng lấy vợ và sẵn sàng cho mọi hành vi bạo lực gây rối. Đúng là TQ cần phải đấu tranh nhiều hơn trước kia với dư xã hội nhưng chính TQ đã tạo ra một môi trường đáng lo ngại nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc mà hiện nay đang bao trùm, nếu không phải là định hướng cho chính sách ngoại giao. Điều đó không có nghĩa là không có những lực lượng dân chủ ở TQ đặt niềm tin vào cải cách kinh tế  hoặc những ai đó còn mong đợi TQ thực hiện dân chủ đầy đủ  ngay tại đất nước mình và

tôn trọng những trật tự quốc tế . Thực tế là có những lực lượng đó nhưng tình hình hiện nay là người đi trước thì đang cúi đầu mà đi để còn kiếm sống, còn người đi sau lại không thể làm gì nhiều từ ngăn xà lim của họ.

Sự kết hợp giữa quyền lực quân sự ngày một mạnh hơn với một lãnh đạo yếu và chủ nghĩa dân tộc đáng lo ngại đang là những vấn đề mang tính hệ thống. Có vẻ như đó là một phần quan trọng đôi lúc tạo nên đường nét của chính sách ngoại giao TQ hiện nay. Nhiều thập kỷ trước TQ đã gieo hạt giống của sự gây hấn quân sự và cố trì hoãn việc cải cách chính trị cũng như “ giáo dục, tuyên truyền” cho quần chúng tư tưởng dân tộc hẹp hòi .

Giờ đây thì thế giới đang phải thu hoạch những gì Đặng tiểu Bình đã gieo.

( Dan Blumenthal là chuyên gia của Viện AEI ( American Enterprises Institute ) một cơ quan nghiên cứu chính sách Hoa kỳ.)

Tường Minh dịch và gới thiệu

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

160. NGUY CƠ XUNG ĐỘT TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA ÔXTRÂYLIA

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NGUY CƠ XUNG ĐỘT TRÊN BIỂN ĐÔNG

VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA ÔXTRÂYLIA

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 4/7/2011

TTXVN (Xítni 29/6)

Viện nghiên cứu chính sách quốc tế Lowy, có trụ sở tại Xítni (Ôxtrâylia), đã cảnh báo rằng những va chạm trên biển gần đây liên quan đến Trung Quốc có thể dẫn tới chiến tranh ở châu Á, đồng thời tiềm ẩn khả năng lôi kéo sự can dự của Mỹ và các cường quốc khác. Trong một báo cáo công bố ngày 28/6, hai tác giả Rory Medcalf và Raoul Heinrichs chỉ rõ cách hành xử mạo hiểm của quân đội Trung Quốc ở biển Hoa Nam (biển Đông) và biển Hoa Đông, cùng với nhu cầu năng lượng to lớn của nước này cũng như thái độ ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh, đã làm gia tăng nguy cơ nổ ra một cuộc xung đột vũ trang.

Đặc biệt, biển Đông đang trở thành một điểm nóng vì khu vực này có nhiều bên gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Đài Loan, Brunây và Malaixia, cùng tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc một  phần lãnh hải.

Bản báo cáo, có tựa đề “Khủng hoảng và niềm tin: Các cường quốc chính và vấn đề an ninh hàng hải ở châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”, dựa trên những tham vấn với các chuyên gia an ninh tại Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và Ấn Độ. Theo báo cáo của Viện Lowy, các tuyến đường biển ở châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đang ngày càng trở nên đông đúc hơn, cạnh tranh gay gắt hơn và rất dễ dẫn đến xung đột vũ trang. Không quân và hải quân của các nước đang được tăng cường giữa lúc cán cân sức nặng chiến lược kinh tế đang có sự thay đổi. Những xích mích giữa Trung Quốc với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ có khả năng tiếp tục dai dẳng và dữ dội hơn. Khi con số và nhịp độ của các vụ việc gia tăng, có thể một vụ việc sẽ leo thang thành đối đầu vũ trang, khủng hoảng ngoại giao hoặc thậm chí có thể là xung đột.

Ông Medcalf, chủ biên của báo cáo, cho rằng cần phải nhanh chóng cải thiện và sử dụng các kênh liên lạc trên thực tế giữa quân đội Trung Quốc và quân đội các bên có tranh chấp, đồng thời khẳng định tình hình căng thẳng hiện nay ở biển Đông có thể dịu bớt nhờ các cuộc đối thoại liên quan đến Trung Quốc, Mỹ và Việt Nam. Trả lời phỏng vấn Hãng truyền thông quốc gia Ôxtrâylia (ABC) ngày 28/6, ông Medcalf cho rằng những đối đầu đang diễn ra đều có chủ định từ phía Trung Quốc nhằm phát đi tín hiệu về đòi hỏi của nước này đối với các vùng biển ở biển Đông. Tuy nhiên, ông nói thêm rằng có một nguy cơ mà Trung Quốc đánh giá thấp, đó là bất kỳ biến cố nào cũng đều có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát và dẫn tới xung đột vũ trang.

Theo nhà phân tích Medcalf, Hải quân Trung Quốc ngày càng mạnh lên và đang “ngấp nghé” hạn chế khả năng tiếp cận của Mỹ đối với các khu vực gần bờ biển Trung Quốc, và thậm chí sớm muộn là các vùng biển quanh Đài Loan. Vấn đề lớn ở đây là ý đồ. Chưa có gì rõ ràng chứng tỏ Trung Quốc có ý đồ quyết liệt hay gây hấn mạnh mẽ nhưng dường như có một số thế lực tại Trung Quốc, kể cả Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA), đang đẩy ranh giới sự việc di xa thêm. Họ đang tiến hành những hành động khiêu khích liên quan đến tranh chấp lãnh hải hoặc có những hành động mà có thể đoán rằng sẽ gửi tín hiệu tới Nhật Bản, Mỹ, Đông Nam Á và các nước khác rằng quyền lợi của Trung Quốc không thể bị xem nhẹ. Cho nên đây là một tình thế rất đáng lo ngại.

Viện Lowy cảnh báo rằng nếu có một cuộc chiến tranh xảy ra thì nó sẽ lan rộng khắp khu vực Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương và Mỹ cùng các cường quốc khác sẽ nhanh chóng bị cuốn vào. Về khả năng Ôxtrâylia có thể phải can dự vào những căng thẳng đó, chuyên gia Medcalf cho rằng Ôxtrâylia rất quan tâm đến vấn đề này bởi tự do hàng hải ở biển Đông rất quan trọng với không chỉ lực lượng hải quân Ôxtrâylia mà còn với hoạt động xuất khẩu của nước này tới Bắc Á. Thêm nữa, Ôxtrâylia cũng là một đồng minh của Mỹ nên nếu Mỹ có xung đột với Trung Quốc về vấn đề biển Đông thì rất nhiều khả năng Ôxtrâylia cũng phải tham gia và đứng về phía Mỹ.

Người Ôxtrâylia lo ngại xung đột quân sự với Trung Quốc, nhưng sẵn sàng hậu thuẫn Mỹ

Một cuộc thăm dò dư luận cũng do Viện Lowy thực hiện mới đây cho thấy người dân Ôxtrâylia đang ngày càng lo ngại về sức mạnh quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và rất nhiều người tin rằng chiến tranh là điều không thể tránh khỏi trong vòng 20 năm tới. Giám đốc điều hành Viện Lowy Michael Wesley cho biết 44% số người được hỏi nói rằng có thể Trung Quốc sẽ trở thành một mối đe doạ quân sự đối với Ôxtrâylia, với 87% nêu lý do là vì Trung Quốc và Mỹ sẽ xung đột nên Ôxtrâylia sẽ bị lôi kéo vào.

Công chúng Ôxtrâylia còn đặc biệt tỏ ra quan ngại về việc người nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, đầu tư ồ ạt vào nước này. Sau khi công bố bản thăm dò dự luận, tiến sĩ Micheal Wesley cho hay người dân Ôxtrâylia có quan điểm mâu thuẫn trong vấn đề liên quan tới Trung Quốc. Một mặt, ba phần tư số người trả lời phỏng vấn cho biết nhìn chung, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc là điều có lợi cho Ôxtrâylia. Tuy nhiên, cũng có đến 65% người Ôxtrâylia tin rằng một khi lớn mạnh, không sớm thì muộn Trung Quốc sẽ tìm cách thống trị châu Á. Tiến sĩ Wesley cho hay trong năm 2011, 57% người Ôxtrâylia cho rằng Chính phủ Ôxtrâylia đã cho phép Trung Quốc đầu tư quá nhiều vào nước này. So với năm 2009, số lượng người Ôxtrâylia lo ngại về vấn đề này tăng tới 7%. Ông Wesley kết luận số người Ôxtrâylia quan ngại về Trung Quốc đang ngày cang đông đảo hơn.

Theo thăm dò của Viện Lowy, người Ôxtrâylia ngày càng bám chặt hơn vào liên minh với Mỹ, bất chấp việc cuộc chiến tranh ở Ápganixtan không được công chứng ủng hộ và niềm tin rằng Mỹ có thể lôi kéo Ôxtrâylia vào một cuộc xung đột mới ở châu Á. Hầu hết số người được hỏi ủng hộ việc đồn trú quân đội Mỹ ở Ôxtrâylia và sẽ ủng hội việc Ôxtrâylia đi theo Mỹ trong một cuộc chiến tranh toàn diện trên bán đảo Triều Tiên.

Cuộc thăm dò cũng cho thấy sự mâu thuẫn về những rủi ro và lợi ích của một nước Trung Quốc có uy lực, những lo ngại tiếp diễn về mối đe dạo về các vụ tấn công khủng bố, nhưng với một niềm tin vững chắc rằng bất chấp tất cả, sự bá chủ toàn cầu của phương Tây vẫn sẽ còn nguyên vẹn hoặc thậm chí còn được củng cố. Người Ôxtrâylia tin tưởng vào việc các cường quốc lớn sẽ “hành động có trách nhiệm”, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản, cũng như Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, mặc dù ở một mức độ quan trọng nhưng kém hơn. Cuộc thăm dò phản ánh sự tái đánh giá đang nổi lên nhanh chóng của Ôxtrâylia về tương lai chiến lược của nước này, cả trong lĩnh vực quân sự và kinh tế, cũng như lo ngại của Chính phủ Thủ tướng Julia Gillard nhằm cân bằng những phản ứng của nước này đối với những dịch chuyển có tiềm năng mâu thuẫn nhau trong cán cân quyền lực.

Ôxtrâylia tái bố trí lực lượng để đối phó với những mối đe doạ trong tương lai

Ôxtrâylia đã bắt đầu tiến trình xem xét lại các khả năng quân sự lần đầu tiên trong vòng 20 năm qua nhằm chuyển trọng tâm bố trí các tàu chiến, tàu ngầm, máy bay chiến đấy và binh sĩ sang khu vực phía Tây và phía Bắc của nước này nhằm đáp lại những thách thức đang nổi lên ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và vùng vành đai Ấn Độ Dương. Động thái này được Chính phủ của Thủ tướng Julia Gillard tuyên bố là để nghiên cứu cách thức tốt nhất bảo vệ các ngành công nghiệp khai khoáng trong vùng đó và chỉ dẫn về những vấn đề như liệu sức mạnh quân sự đang nổi lên của các nước châu Á-Thái Bình Dương có gây ra một mối đe doạ cho Ôxtrâylia hay không.

Theo nhận định của tờ “Người Ôxtrâylia” ngày 23/6, tiến trình “Xem xét tái bố trí lực lượng” do Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith công bố hôm 22/6 sẽ gắn chặt với việc xem xét lại cách thức bố trí lực lượng toàn cầu mà Mỹ đang tiến hành với trọng tâm nhằm vào sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Hai tiến trình xem xét lại này có thể sẽ dẫn tới việc gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực và việc Mỹ tăng cường sử dụng các căn cứ của Ôxtrâylia cho máy bay và tàu chiến. Kể từ sau Hội nghị các bộ trưởng ngoại giao – quốc phòng giữa Ôxtrâylia và Mỹ (Ausmin) tại Melbourne hồi năm ngoái, các nhóm của cả hai nước đã bắt đầu làm việc về chi tiết của những thoả thuận liên quan đến việc các lực lượng Mỹ sử dụng các cơ sở quân sự và hải cảng của Ôxtrâylia.

Các tài liệu do Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith công bố không đề cập gì tới Trung Quốc, nhưng nhóm thẩm định đã được chỉ thị nghiên cứu “sự gia tăng các khả năng sử dụng sức mạnh quân sự của những nước ở châu Á-Thái Bình Dương”. Theo giáo sư Paul Dibb, tác giả của tiến trình tương tự được tiến hanh 2 thập niên trước đây, điều đó là một sự đề cập rõ ràng tới Trung Quốc. Trong khi đó, Giám đốc Viện chính sách chiến lược Ôxtrâylia (ASPI) Peter Abigail cho rằng tiến trình xem xét lại lần này sẽ bổ sung cho phần không được đề cập tới trong Sách trắng Quốc phòng 2009.

Tiến trình xem xét lại bố trí lực lượng sẽ do hai cựu quốc vụ khanh quốc phòng Allan Hawke và Ric Smith chủ trì và là một sự đáp lại những lo ngại của ngành khai khoáng và các nhà chiến lược quốc phòng rằng nguồn chủ yếu mang lại sự giàu có cho Ôxtrâylia có thể bị nguy hiểm và không được bảo vệ đúng mức nếu tình hình an ninh khu vực trở nên xấu đi. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith, tiến trình này và Sách trắng Quốc phòng không nhằm vào bất cứ quốc gia cụ thể nào, nhưng sẽ chú trọng vào một loạt những nhân tố toàn cầu, khu vực cũng như chiến lược và an ninh quốc gia hiện tại và đang nổi lên. Ông Stephen Smith đã bác bỏ những gợi ý rằng việc xem xét lại này đang được tiến hành với một trọng tâm nhằm vào Trung Quốc, nói rằng Ôxtrâylia có một mối quan hệ kinh tế rất quan trọng với Trung Quốc, nhưng đó là một quan hệ song phương toàn diện và quan trọng bao gồm cả những vấn đề chiến lược và an ninh cũng như những trao đổi thường xuyên giữa các quan chức quân sự. Ông Stephen Smith nói: “Chúng tôi tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ nổi lên, như Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Bob Zoellick nói, là một thành viên có trách nhiệm trong một môi trường hoà hợp, như người Trung Quốc nói”.

Theo Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith, việc bảo vệ cơ sở hạ tầng năng lượng cũng như câu hỏi về an ninh năng lượng đang trở thành những vấn đề trong nước quan trọng đối với Ôxtrâylia, giữa lúc các hoạt động khai thác dầu khí trị giá hàng tỉ AUD ở ngoài khơi vùng Tây Bắc nước này tiếp tục phát triển. Ông Smith cho biết tiến trình thẩm định sẽ cân nhắc sự nổi lên của nhu cầu đối với an ninh năng lượng ở vùng Tây Bắc Ôxtrâylia, sự nổi lên của Vành đai Thái Bình Dương như là một khu vực có tầm quan trọng chiến lược và nhu cầu đối với Ôxtrâylia để có thể phản ứng trước các cuộc khủng hoảng nhân đạo trong khu vực.

Tiến trình thẩm định này sẽ dựa vào và chỉnh lý những kết luận của Sách trắng Quốc phòng 2009 và khi hoàn tất vào năm tới sẽ đưa ra một bối cảnh chiến lược cho Sách trắng Quốc phòng tiếp theo dự kiến được công bố vào năm 2014. Trong khi chưa có mối đe doạ nào hiện hữu ngay trước mắt vào lúc này, Ôxtrâylia sẽ cần phải mất nhiều năm để trang bị và đưa vào trực chiến các tàu hải quân mới (bao gồm tàu khu trục và các tàu đổ bộ lớn) và máy bay chiến đấu đa năng như JSF cũng như nâng cấp các căn cứ cho những khí tài quân sự này.

Hãng truyền thông quốc gia Ôxtrâylia (ABC) cho biết Ôxtrâylia hiện đang theo đuổi chương trình mua sắm vũ khí quy mô lớn, tập trung vào việc hiện đại hoá hải quân và không quân, nhằm tăng cường khả năng phòng thủ và tác chiến trên bàn cờ chiến lược mới tại châu Á. Đây là đợt mua sắm vũ khí lớn nhất của quân đội Ôxtrâylia kể từ Thế chiến II, theo đó, hạm đội tàu ngầm sẽ tăng gấp đôi lên 12 chiếc và nhóm tàu ngầm lớn Collins sẽ đàn được cho “nghỉ hưu”. Bên cạnh đó, Chính quyền Canbơrơ sẽ chi ra 10 tỷ AUD để mua hai tàu sân bay với tên gọi HMAS Adelaide và HMAS Canberra. Về không quân, Ôxtrâylia sẽ mua 100 máy bay chiến đấu đời mới loại F-35 JSF của Mỹ, cùng 8 máy bay thám thính đường trường. Ngoài ra, một số tên lửa đạn đạo với tầm bắn xa tới 2.400km cũng sẽ được Ôxtrâylia mua lần đầu tiên.

***

Việt Hà của đài RFA đã có cuộc phỏng vấn giáo sư Nick Bisley giảng dạy môn quan hệ quốc tế tại trường Đại học La Trope của Ôxtrâylia về tình hình căng thẳng ở Biển Đông và thái độ của Ôxtrâylia về vấn đề này. Giáo sư Bisley cũng là thành viên của Hội đồng an ninh và hợp tác châu Á Thái Bình Dương, và đã có mặt tại Đối thoại Shangri-La vừa qua ở Xinhgapo. Sau đây là nội dung chi tiết:

Cơ cấu kiềm chế xung đột

+ Xin ông cho biết những căng thẳng trên Biển Đông có ảnh hưởng thế noà đối với Ôxtrâylia?

–                           Quan điểm của Ôxtrâylia cũng giống như nhiều nước khác quan tâm đến các diễn biến trên Biển Đông. Mối quan ngại lớn nhất là những xung đột rõ ràng tại Biển Đông, nơi quyền lợi của các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc cùng một số nước khác tại Đông nam Á lại trùng hợp nhau. Những đụng độ xẩy ra thường xuyên xuất phát từ nguyên nhân lợi ích bị va chạm sẽ không chỉ là những đụng độ nhỏ trên biển mà có thể sẽ xảy ra các cuộc xung đột lớn hơn.

Quan điểm của Ôxtrâylia cũng như một số nước khác trong khu vực là cần tạo ra một cơ cấu để có thể kiểm soát và kiềm chế được các xung đột này, tránh để xung đột có thể leo thang thành xung đột lớn hơn. Nhưng vấn đề mà chúng tôi gặp phải, cũng đựơc thể hiện ở Shangri-La, là kể cả Trung Quốc và Mỹ đều không muốn đi theo hướng mà họ cho là có thể ràng buộc những hoạt động của họ trong một quá trình đa phương. Cho nên ASEAN, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Hàn Quốc đã nhiều lần đưa ra các đề nghị để nhiều bên kiểm soát và kiềm chế những xung đột trên biển, hay khi xẩy ra khủng hoảng, thậm chí đề nghị có một bộ quy tắc ứng xử. Tuy nhiên cả Trung Quốc lẫn Mỹ đều không muốn bị ràng buộc bởi cơ chế này. Ôxtrâylia cũng như nhiều nước khác cũng có quyền lợi gián tiếp liên quan đến những sự kiện tại Biển Đông nhưng không thể làm được gì nhiều bởi những ảnh hưởng mạnh từ Mỹ và Trung Quốc, mà họ thì không sẵn sáng thay đổi lập trường để phù hợp với một quá trình đa phương.

Ôxtrâylia nghiêng phía nào?

+ Ông có nghĩ đến một lúc nào đó Ôxtrâylia sẽ trực tiếp can thiệp vào những căng thẳng trên Biển Đông? Nếu có là trong trường hợp nào? Mức độ ra sao?

–                           Tôi nghĩ rất khó có khả năng Ôxtrâylia sẽ can thiệp vào những sự kiện đụng độ nhỏ trên Biển Đông, Ôxtrâylia không muốn tham gia về mặt quốc phòng vào các khu vực nhạy cảm như Biển Đông. Ôx trâylia sẽ rất miễn cưỡng trong chuyện này trừ khi có sự hậu thuẫn của Liên hợp quốc hay nhiều quốc gia.

Ngoại lệ duy nhất là khi xảy ra xung đột nghiêm trọng giữa Trung Quốc với Mỹ. Trong trường hợp đó, vị trí của Ôxtrâylia là rất khó khăn vì Ôxtrâylia là đồng minh của Mỹ, tôi cho là Ôxtrâylia tham gia vào bất cứ hành động can thiệp quân sự nào của Mỹ. Về mặt chính trị, cũng sẽ rất khó cho Ôxtrâylia để nói “không” với Mỹ. Tôi nói một ví dụ về Đài Loan, dù đây không phải là Biển Đông nhưng cũng gần đó, và đây là một bất đồng giữa Mỹ và Trung Quốc. Tôi nghĩ Ôxtrâylia sẽ rất khó khăn khi phải chọn lựa giữa một bên là đồng minh Mỹ và một bên là Trung Quốc – một nước nhập khẩu lớn, đối tác thương mại lớn của Ôxtrâylia là Trung Quốc. Có rất nhiều lý do mà Ôxtrâylia muốn tránh can thiệp nhưng cuối cùng nếu Mỹ cần thì Ôxtrâylia sẽ không thể không tham gia dù khó khăn, kể cả trong vấn đề Biển Đông.

Trung Quốc không đáp ứng

+ Vậy theo ông, Chính phủ Ôxtrâylia sẽ làm gì trong thời gian sắp tới và phải làm gì để thúc đẩy quá trình đưa đến việc tìm ra một giải pháp cho vấn đề Biển Đông?

–                           Đối với Ôxtrâylia, cách duy nhất để có thể đạt được mục đích về chính sách trong khu vực là tìm đối tác để cùng làm việc. Ôxtrâylia chỉ là nước nhỏ và không muốn đơn độc một mình, mà muốn làm việc với các nước khác có cùng quan điểm để tìm ra một cơ chế đa phương. Như tôi biết được qua sự tiếp xúc với giới chức chính phủ lúc này là Ôxtrâylia đồng hành với ASEAN để đạt được Bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Đông, hay có thể là một tuyên bố mạnh hơn bản tuyên bố năm 2002. Cho nên Ôxtrâylia đang cố gắng hết sức để làm việc cùng ASEAN nhằm tìm ra cách kiểm soát các vấn đề về Biển Đông. Nhưng viễn ảnh đạt được kết quả như mong muốn thực sự không sáng sủa lắm. Theo tôi, bên ngoài ASEAN mọi người muốn nhìn thấy Ôxtrâylia thành công trong việc thực hiện được một điều gì đó để cuối cùng ASEAN, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Hàn Quốc có thể tạo dựng được một cách để kiềm chế khủng hoảng trên Biển Đông. Nhưng tất cả còn lệ thuộc vào sự hưởng ứng của Mỹ và Trung Quốc. Trong hai nước lớn này, Mỹ là nước có vẻ sẵn sàng hơn trong việc ủng hộ sự hình thành những qui định chung cho Biển Đông. Chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã nói tại Shangri-La là nếu không có một quy định chung như vậy thì khả năng căng thẳng leo thang là có thể xảy ra. Quả bóng đang ở bên sân của Trung Quốc nhưng với những gì mà tôi quan sát, tôi không nghĩ Trung Quốc sẽ có những chuyển động tích cực đáng nói trong vấn đề này.

May lắm chỉ đạt được một thời gian biểu

+ Ông có nói đến việc đưa ra một cơ chế đa phương cho vấn đề Biển Đông. Chúng ta đã có Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và mong đợi Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC), theo ông, đâu là khó kăhn cho ASEAN trong việc tién tới một bộ quy tắc như vậy?

–                           Tôi nghĩ khả năng của ASEAN nhất trí được với nhau về vấn đề này là rất hạn chế. Chúng ta thấy một ví dụ điển hình là xung đột đang diễn ra giữa Thái Lan và Campuchia cho thấy khả năng giải quyết vấn đề của ASEAN giữa các thành viên hạn chế thế nào. Rõ ràng là ASEAN cũng làm được những điều đó có lợi cho các nước thành viên, nhưng ASEAN còn hạn chế trong các vấn đề về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Và việc mà chúng ta đang làm là thiết lập được COC cho ASEAN và Trung Quốc. Điều này đang tạo ra một khó khăn kép cho ASEAN. Thứ nhất là sự khác biệt giữa các nước nội khối, họ cũng có tranh chấp với nhau. Thứ hai là với Trung Quốc, Mỹ. Cho nên khó mà có thể hy vọng vào một COC phát xuất trước từ ASEAN có tính ràng buộc và làm dịu tình hình trong tương lại gần. ASEAN theo đuổi con đường ngoại giao và điều đó có thể xảy ra theo tôi có lẽ là một dạng giữa COC và DOC có thể là một thoả thuận giữa các bên về một quá trình tiến tới đạt được COC.

Tôi nghĩ do sự khác biệt giữa các nước mà một COC có tính ràng buộc là rất khó đạt được, nhưng rõ ràng là đã 9 năm rồi và vấn đề chỉ càng trở nên phức tạp hơn ngay cả trong trường hợp ASEAN muốn giữ thể diện của mình mà nói rằng muốn làm được cái gì đó để cho mọi người thấy. Tôi nghĩ là rất có thể chúng ta sẽ nhìn thấy cái gì đó như làm một tiến trình, một thời gian biểu, vì ASEAN thì thích cáic gọi là quá trình nhưng tôi không tin là một COC mà có thể thoả mãn được tất cả các bên sớm thành hình./.

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

159. Dừng cuộc thi nói không với chữ U

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

Dừng cuộc thi nói không với chữ U

Đỗ Trung Quân

Từ sáng kiến của tiến sĩ Nguyễn Quang A: “Sản xuất  20 triệu áo, mũ in chữ U-NO, U gạch chéo giúp ngư dân bám biển “ do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức và thực hiện. Đại học Hoa Sen thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức một  cuộc thi Thiết Kế Logo Non-U, “Nói KHÔNG với đường lưỡi bò” kêu gọi tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam thể hiện qua những việc làm, hành động cụ thể đối với việc xác định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, góp phần bảo vệ hòa bình, hợp tác và phát triển trong cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á…”

Nhưng chỉ chưa đầy một tuần lễ kể từ khi chính thức đưa ra thư ngỏ gửi các bạn sinh viên của Ban tổ chức Đại học Hoa Sen ngày 5- 7 -2011. Tin nhắn [ muốn được giấu tên ] của một thành viên BTC đã được gửi cho các thành viên Ban giám khảo:”Do có một số thay đổi vào phút cuối xin tạm thời ngừng và phát tán thông tin về cuộc thi. Cảm ơn và sẽ thông báo sau …”

Thông tin ấy bất ngờ nhưng suy cho cùng không gây ngạc nhiên cho những  ai đang quan tâm và ủng hộ những chương trình như thế , nếu có câu hỏi thắc mắc tại sao, thì câu trả lời cũng dễ hiểu, rằng gạch chéo hai đường chống thuốc lá , chống tệ nạn dễ hơn gạch chéo cái đường “ lưỡi bò “ Đại Hán nhảm nhí kia.

Nhưng suy cho cùng một cuộc thi không thể tổ chức thì đất nước này có hàng vạn họa sĩ, ai cũng có thể tự vẽ cho mình hai đường gạch chéo  lên cái “ chữ U” ngạo mạn , bất chấp luật lệ quốc tế kia.  Không có gì dễ dàng hơn thế.

Qúa dễ !

Bổ sung, hồi 15h15′, TS Nguyễn Quang A gửi vài hàng thông báo đề nghị “cho công bố 6 biểu tượng đã có trước xa ý định của ĐH Hoa Sen.  
Các họa sỹ Văn Sáng và Lý Trực Dũng đã tích cực vẽ biểu tượng ngay từ ngày đầu. Kts Võ Thành Lân cũng thế. Rất cảm ơn các Anh. 
6 cái biểu tượng này đã có từ thứ ba tuần trước. Nay thấy cần đưa ra rộng rãi để bà con cứ thế mà in (decal, sticker dán trên mũ bảo hiểm, kính xe ô tô, cặp học sinh,… hay in trên áo mưa, áo thun). 4 cái là tác phẩm của họa sỹ Lý trực Dũng, 2 cái là của kiến trúc sư Võ Thành Lân. Theo 2 họa sỹ, các file jpeg này đưa đến nơi làm áo, làm decal là in được ngay. Vậy báo để bà con làm cho khoảng 3 triệu xe ô tô (in cỡ A4) và hàng chục triệu mũ bảo hiểm (cỡ 25 cm2). 
Ai muốn in thành áo (áo thun, áo mưa) xin cứ tùy thích. Và chẳng bọn “phản động” nào có thể cản được bà con làm việc này.”

Còn theo ngu ý BS thì nên tham khảo hình phổ biến mấy bữa nay, nếu ngại “ảnh hưởng quan hệ ngoại giao” thì bỏ mấy ngôi sao, chữ China và chỉnh cái bản đồ đừng chi tiết quá, tụi bành trướng bá quyền không có cớ để cự nự, là ổn. Về mặt “thời trang” cái hình nầy lại rất bắt mắt nữa chớ. Nhưng … cũng coi chừng lại bị đi tù vì hành động yêu nước rất bình thường như vậy.

 

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

158. Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Số 381 Tháng 6 – 2011

Trần Trọng Kim và bộ sách

giáo khoa bậc sơ học

Phan Trọng Báu

BỘ SÁCH GIÁO KHOA BẬC SƠ HỌC CỦA TRẦN TRỌNG KIM CHỦ BIÊN MÀ CHÚNG TÔI MUỐN NÓI Ở ĐÂY LÀ NHỮNG CUỐN: SỬ KÝ GIÁO KHOA THƯ, LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ VÀ QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ CỦA CÁC TẦNG LỚP ĐỒNG ẤU (LỚP NĂM), DỰ BỊ (LỚP TƯ) SƠ ĐẲNG (LỚP BA) DO NHA HỌC CHÍNH ĐÔNG PHÁP QUẢN LÝ. NGOÀI TRẦN TRỌNG KIM CÒN CÓ CÁC ÔNG NGUYỄN VĂN NGỌC, ĐẶNG ĐÌNH PHÚC VÀ ĐỖ THẬN THAM GIA BIÊN SOẠN.

Sách giáo khoa bậc sơ học trước Trần Trọng Kim

 

Từ khi mới tổ chức nền giáo dục ở Nam kỳ (1861) cho đến trước cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), nhà cầm quyền Pháp đã gặp một vấn đề nan giải là sách giáo khoa, vì không có người đủ năng lực để biên soạn đã đành, mà còn làm sao cho nội dung của sách phải phù hợp với tâm sinh lý của nền giáo dục Nho giáo. Thời kỳ đầu chưa có sách giáo khoa, họ đã phải cho học sinh dùng tờ Gia Đình báo làm sách tập đọc. Một thời gian sau họ lại mang sách từ Pháp sang nhưng vì không hợp với năng lực của giáo viên và trình độ của học sinh nên kết quả rất hạn chế. Cho đến những năm 80 của thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký và một số giáo viên người Việt và người Pháp ở cơ quan học chính Nam Kỳ đã biên soạn hoặc dịch một số sách giáo khoa tiếng Pháp để dạy trong các trường tiểu học. Những sách này dần dần được bổ sung thêm một số quyển khác và đã thành những sách dạy trong các trường tiểu học lúc đó(1).

Đa số những sách này hoặc do chữ Quốc ngữ mới ở thời kỳ đầu sơ khai, hoặc mô phỏng sách giáo khoa tiểu học Pháp, hoặc trình độ dịch còn non yếu nên câu chữ lủng củng và do đó, cách diễn đạt nội dung có phần hạn chế. Cũng do mô phỏng nên 82 bài trong Sách tập học của Pot-taux (Sài Gòn 1875) thì 70 bài là khoa học thưởng thức về địa lý (núi non, sông biển, các nước trên địa cầu…), cơ khí máy móc (các nguyên lý máy móc, đường sắt, xe lửa…), còn lại hai bài có nội dung xã hội nhưng là của nước Pháp nhiều hơn là của Việt Nam (Ông Montyon, Chuyện một công chúa làm phước, Những người tu trên núi St Bernard…). Sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), sách giáo khoa vẫn chưa được cải thiện là bao nhiêu. Sách cách trí và ngay cả sách địa dư cũng do một số người Pháp biên soạn và người mình dịch lại(2). Như vậy việc biên soạn một bộ sách giáo khoa phù hợp với trình độ của học trò sơ học là rất cần thiết và cấp bách.

Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học

Theo qui chế của cải cách gioá dục lần thứ 2 (1917) thì bậc tiểu học có 5 lớp (đồng ấu, dự bị, sơ đẳng, lớp nhì và lớp nhất), đến 1925 lại có thêm lớp nhì đệ nhất cộng là 6 năm. Bậc tiểu học được chia làm hai: sơ học là 3 lớp dưới gồm đồng ấu (lớp năm), dự bị (lớp tư), sơ đẳng (lớp ba) và tiểu học là 3 lớp trên (nhì đệ nhất, nhì đệ nhị, lớp nhất). Ba lớp dưới được dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, chỉ có trường nào dạy toàn cấp (tiểu học bị thể hay kiêm bị) thì mới dạy chữ Pháp. Bộ sách giáo khoa của Trần Trọng Kim dùng cho ba lớp như ta đã biết gồm:

–         Sử ký địa dư giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng).

–         Luân lý giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sở đẳng).

–         Quốc văn giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng).

Sử ký địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng là cuốn sách đầu tiên chúng tôi muốn giới thiệu. Cuốn này do hai ông Trần Trọng Kim và Đặng Đình Phúc biên soạn. Mở đầu các tác giả viết:

“Theo qui chế mới thì lớp Đồng ấu không dạy sử, còn lớp Dự bị sử ký chỉ dạy những truyện cổ tích, truyện ký sự và những chuyện của các danh nhân trong lịch sử theo đúng chương trình đã định. Đến lớp Sơ đảng thì mới dạy sử ký và không dạy lẻ loi từng truyện một như ở lớp Dự bị nữa; từ đầu đến cuối bài nọ liên lạc với bài kia và các biến cố lớn đều quan hệ với nhau”(3).

Do đó ta thấy môn Sử ký lớp Dự bị là những truyện Sơn tinh Thuỷ tinh, Phù đổng thiên vương đánh giặc Ân, Lê Lợi đánh quân Minh… Còn Sử ký lớp Sơ đẳng được chia làm 6 chương, gồm:

Chương một: Thượng cổ thời đại nói về nguồn gốc dân tộc, sự tích Lạc Long Quân, Âu Cơ; 18 đời vua Hùng…

Chương hai: Bắc thuộc thời đại, với những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc: lần thứ nhất kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng; lần thứ hai kết thúc với cuộc giành độc lập của Lý Bôn thành lập nhà Tiền Lý; Bắc thuộc lần thứ ba kết thúc bằng sự dấy nghiệp của Khúc Thừa Dụ.

Chương ba: chấm dứt ba lần Bắc thuộc hơn nghìn năm mở đầu cho “tự chủ thời đại” với các võ công văn trị của các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê.

Tiếp theo là chương bốn có tiêu đề “Nam Bắc phân tranh thời đại” với những cuộc nội chiến liên miên giữa Trịnh – Mạc rồi Trịnh – Nguyễn và cuối cùng là khởi nghĩa Tây Sơn, chấm dứt một thời gian dài nội chiến và chia cắt.

Nhưng cuộc thống nhất thực sự và hoàn toàn phải đến sau khi Nguyễn Ánh đánh thắng nhà Tây Sơn. Do đó chương năm là đề mục của Thống nhất thời đại vưói các triều Gia Long, Minh Mạng, Triệu Trị và các sự biến loạn dưới triều Tự Đức. Cuối cùng là chương sáu “Người Pháp sang bên ta” với các hoà ước 1862, 1855 rồi “Các công cuộc người Pháp làm ở nước Nam” như “dẹp loạn” (người Pháp còn dùng từ “bình định”), xếp đặt việc cai trị, xây dựng kinh tế, mở mang y tế và học hành…

Cuối sách còn có niên biểu chép từ họ Hồng Bàng đến 1926 là năm vua Bảo Đại lên ngôi.

Ta thấy cuốn sách trình bày khá hợp lý. Tác giả đã tóm tắt cốt lõi của lịch sử, viết hết sức ngắn gọn, sự kiện cuối cùng của một chương thường là nguyên nhân mở đầu cho thời kỳ tự chủ; hoặc lợi dụng lúc nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Ánh đã đánh bại nhà Tây Sơn, chấm dứt thời kỳ chia cắt, mở đầu thời kỳ thống nhất đất nước.

Tuy viết cho học sinh nhỏ tuổi nhưng tác giả cũng đã cho các em tập làm quen với sự chân xác lịch sử, hoặc những nghi vấn, ví như họ Hồng Bàng cả thảy có 20 đời vua trị vì trong 2621 năm (2879 – 258 TCN) mỗi đời vua là 138 năm “thì thật là vô lý. Cho dù tuổi thọ của người xưa có thể dài nhưng cũng không thể sống lâu được như vậy”. Hoặc đánh giá đúng mức một số quan Tàu có công trong việc truyền bá văn minh cho dân nước ta buổi đầu: Tích Quang thái thú quận Giao Chỉ, Nhâm Diên thái thú quận Cửu Chân đã bắt dân ta theo lễ nghĩa, con trai con gái ăn ở với nhau phải theo phép cưới hỏi; Sĩ Nhiếp đã có công đưa chữ Hán sang dạy người nước ta… “Đó là những người nhân chính muốn mở mang cho người mình”(4). Hay như phong trào chống Pháp của nhân dân ta cuối thể kỷ XIX, tác giả cũng cho rằng: “Các quan và đảng Văn Thân tuy phần nhiều là người có nghĩa khí nhưng thế lực không đủ lâu ngày cũng phải tan cả”(5).

Đó là về sử ký, còn về địa dư, cuốn sách trình bày các vấn đề địa lý của năm xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao (Lào) và Cao Miên (Campuchia). Tuy rất ngắn gọn nhưng học sinh cũng có thể phân biệt được những yếu tố cấu thành địa lý của từng xứ: hình thế (vị trí, giới hạn, diện tích) khí hậu, sông ngòi; chính trị; kinh tế; công nghệ; giao thông thuỷ bộ, các thành phố lớn… Tuy nhiên tác giả cũng lưu ý: “Trước khi học địa dư toàn xứ cần cho trẻ học địa dư tỉnh nó ở và các tỉnh lân cận”. Tác giả đã lấy tỉnh Hà Đông làm ví dụ và viết tiếp: “Ông thầy theo những bài ấy mà đặt những bài mình phải dạy”(6).

Luân lý giáo khoa thư lớp Sơ đẳng là cuốn thứ hai mà chúng tôi muốn giới thiệu. Từ năm 1917 khi đang làm chủ nhiệm tờ Học báo là nội san hướng dẫn phương pháp sư phạm và nội dung giảng dạy bậc sơ đẳng tiểu học cho mãi đến sau này, Trần Trọng Kim vẫn luôn giữ mụcLuân ký và Lịch sử Việt Nam. Năm 1925, cuốn Luân lý giáo khoa thư lớp Đồng ấu ra đời: sau đó lần lượt các cuốn của lớp Dự bị và Sơ đẳng nhưng Luân lý lớp Sơ đẳng là đầy đủ hơn cả, ngoài 4 chương trình còn có phụ lực về phong tục, đon từ, thư khế(7).

Trong bốn chương thì chương 1 và 4 là quan trọng nhất, chiếm số bài nhiều hơn cả (chương 1: 16 bài, chương 4: 18 bài).

Chữ Hiếu được coi trọng hàng đầu trong chương “Bổn phận đối với gia tộc”. Nó không chỉ là thương yêu bố mẹ, vâng lời bố mẹ mà còn phải phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu, thờ cúng khi bố mẹ đã mất. Nó liên quan đến nghĩa gia tộc, tức là cháu đối với ông bà, anh trưởng đối với em…

Còn “Bổn phận đối với học đường” thì không những phải đi học, phải luôn luôn quan tâm đến học vấn tức là “Kiến thức thâu thái được ở trường” và giáo dục  tưức  là  “cách mở mang trí tuệ, rèn luyện cho có đủ tư cách làm một người dân trong xã hội”, mà còn phải coi trọng bổn phận đối với thầy, đối với bạn khi đang ngồi trên ghế nhà trường cũng như khi đã thôi học.

Đối với bản thân thì sao? Đó là phải biết trọng linh hồn, biết quí thân thể. Ăn uống điều độ, rèn luyện thể chất, xa rời cờ bạc, rượu chè và nhất là không nghiện thuốc phiện.

Con người luôn là con người xã hội, cho nên tác giả đã dành 18 bài cho chương 4, chương cuối cùng và cũng là một trong hai phần quan trọng nhất của cuốn sách. Nếu như chương I “chữ hiếu” là vấn đề quán xuyến thì ở đây tinh thần “Công bằng và nhân ái” là sợi chỉ xuyên suốt, gồm những vấn đề như trọng tính mệnh tài sản và danh giá người khác, không nói vu, không nói xấu. Lòng nhân ái bao gồm cả tính hữu ái, lòng thí xã, việc thiện, bố thí, thương yêu loài vật… Cuốn sách cũng không quên gói lại bằng một bài “kính mến và biết ơn Nhà nước”.

Mỗi bài học đều có nội dung rất ngắn gọn, tiếp theo là một tiểu dẫn có tính minh hoạ, cuối cùng là một câu cách ngôn hoạc chữ Hán hoặc tiếng Việt thâu tóm cái “thần” của bài học(8). Phần phụ gồm Phong tục đơn từ, thư khế có thể coi như phần thu nhỏ của giáo dục công dân. Từ chương I đến chương VI là tóm lược tổ chức chính quyền xã, huyện, tỉnh của năm xứ Đông Dương và chính thể Đông Pháp. Chương VII là cúng lễ, hội hè. Chương VIII nói về lễ hôn và lễ tang. Chương IX gồm đơn xin khẩn điển, giảm thuế, văn tự vay nợ, chúc thư chia gia tài…

Tóm lại, nếu học đầy đủ Luân lý giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, học sinh cũng đã có thể hiểu được bổn phận đối với gia đình và xã hội, những điều sơ đẳng về thể chế, pháp luật cần tuân theo để làm một công dân tốt.

Tuy nhiên nói đến sách giáo khoa sơ học của Trần Trọng Kim thì Quốc văn giáo khoa thư ba lớp Đồng ấu Dự bị và Sở đẳng được người ta chú ý hơn cả.

Tuy nói là “quốc văn” nhưng nội dung chủ yếu của lớp Dự bị lại là lịch sử hay đúng hơn là những nhân vật lịch sử như Truyện hai chị em Bà Trưng, Truyện Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Kim; ông tổ sáng nghiệp ra nhà Nguyễn: Nguyễn Hoàng. Có khi thông qua một nhân vật mà nói lên một sự kiện trọng đại của lịch sử đất nước như Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Hà Nội, Cố A. Đờ Rốt và việc đặt ra chữ Quốc ngữ, Luỹ Đồng Hới (gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ và thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh). Chữ Nho. Còn nội dung cuốn Quốc văn của lớp Đồng ấu và Sơ đẳng thì người ta lại nói nhiều đến luân lý, tính văn học chỉ là điểm xuyết của một số bài tả cảnh, “mùa cấy”, “mùa gặt”, “cảnh mùa xuân”, “cánh đồng nhà quê” của lớp Đồng ấu, ca dao hoặc một bài thơ cổ “con cò mà đi ăn đêm” của lớp Dự bị, “vào hè”, “vịnh cái chổi”, của lớp Sơ đẳng…

Tại sao tác giả lại chú ý đến luân lý như vậy? Ta biết rằng bậc sơ học chủ yếu yếu là dạy cho học trò ở nông thôn: “Học trò phần nhiều chỉ có thể học mấy năm cho biết đọc biết viết rồi về làm ruộng, không có chí học đến lấy bằng tốt nghiệp tiểu học đến lấy bằng tốt nghiệp tiểu học thì chỉ nên đặt trường sơ đẳng mà thôi”(9). Có thể nói mục tiêu của trường sơ đẳng là đạo tạo “trí thức làng xã”, mà tầng lớp này thì không thể vội vã “chỉ trong hai thế hệ là có thể làm cho họ nói và suy nghĩ bằng tiếng Pháp” được. Bởi vì đối với người Việt Nam thì “Những nguyên tắc làm cho gia đình vững chắc, cha mẹ được tôn kính, chính quyền được tuân thủ, đều rút từ sách Hán học. Bắt đầu tập đọc những chữ đầu tiên là họ học những những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ suốt cả cuộc đời. Chính các trường làng sẽ cung cấp cho họ nền giáo dục đó (TG nhấn mạnh)(10)

Chính theo định hướng trên mà Quốc văn giáo khoa thư bậc sơ học, bậc của học sinh nông thôn, rất quan tâm đến luân lý. Ngoài sách luân lý có tính “chuyên đề”, sách quốc văn vẫn nhắc lại một số nội dung chính. Như đã trình bày, sách quản lý lớp Đồng ấu chữ hiếu được để lên hàng đầu thì ở đây sách Quốc văn lớp Đồng ấu, chữ Hiếu vẫn là những bài học chiếm tỷ lệ khá lớn. Chữ Hiếu được hiển hiện bằng những việc làm cụ thể: Giúp đỡ cha mẹ; Đi phải thưa, về phải trình; Sớm tối chăm non cha mẹ; Gọi dạ bảo vâng; Thờ cúng tổ tiên; Cháu phải kính mến ông bà…

Một số “bổn phận” cũng được nhắc lại: Đối với bản thân: Đừng để móng tay dìa; chớ nhổ bậy; chớ tắm rửa bằng nước bẩn; tham thực cực thân… Đối với học đường: Học trò phải biết ơn thầy; anh em bạn học phải giúp đỡ lẫn nhau (chuyện Lưu Bình – Dương Lễ)… Nếu như quốc văn lớp Đồng ấu chữ “hiếu” và những “bổn phận” được nhắc lại với những bài dễ thuộc dễ nhớ thì nội dung luân lý trong quốc văn lớp Sơ đẳng được nâng cao và sâu sắc hơn. Ở đây chữ “hiếu” vẫn được đề cao nhưng không phải là những lời khuyên bảo về một công việc cụ thể mà là những điển hình như: “sự hoà thuận và thương yêu nhau trong gia đình” (Chuyện anh em họ Điền), “lòng thảo hiếm có” (chuyện Mẫn Tử Khiên đối với em khác mẹ), “Lòng kính yêu chị” (Lý Tích nấu cháo cho chị bị cháy cả râu). Tình bạn thì “Đạo bằng hữu phải cho có thuỷ chung” (Chuyện Dương Tiêu Sơn và Từ Từ Dữ); “Lưu Bình – Dương Lễ”…. Đặc biệt một số vấn đề lớn của luân lý Nho giáo được đề cập như tu thân: “Cách sửa mình” (Trình Tử) “Có học phải có hạnh” (chuyện Sài Thế Viễn trọng đạo đức hơn văn chương); “Không tham của người” (chuyện ông Nguyễn Đình Thản đào được vàng đã giao lại chủ cũ), “Cần phải giữ gìn tính hạnh của mình” (chuyện một người đi đường lội, lúc đầu thì chú ý giữ gìn đôi giầy, nhưng sau khi bị bẩn thì cứ bước tràn đi). Lập chí: Người con trai là phải “quyết chí tu thân” để chờ “Phong vân gặp hội, anh hào ra tay” trong bài cao dao “Chí làm trai”. Không sợ nghèo khó (chuyện ông Châu Trí đốt lá đa mà học, sau đi thi đỗ giải Nguyên). Trị quốc: Nêu gương những nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc và Việt Nam: Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Văn An…

Trở lên chúng tôi đã trình bày những nét cơ bản về nội dung của những sách giáo khoa thư bậc Sơ học. Còn hình thức thì sao? Hầu hết những cuốn giáo khoa thư này đều biên soạn khi mà nền quốc văn của ta không còn là sơ khai như đầu thế kỷ mà đã có những bước tiến rõ rệt về cách diễn đạt. Do đó những bài ca dao cổ, thơ cổ, tác giả thường để nguyên (Lính thú đời xưa; Thằng mõ (của Lê Thánh Tông). Cũng có một vài bài ca dao tác giả đã sáng tác để phục vụ cho một chủ đề nào đó, ví dụ “Đi học phải đúng giờ”, “khuyên học”. Tất cả những bài hát đều theo thể lục bát, dễ nhớ, dễ thuộc(11). Còn những bài văn xuôi, trừ một số rất ít bài mô phỏng theo ngụ ngôn Ézope (Cái lưỡi), Lafontaine (Con chồn và con gà trống), Cổ học tinh hoa (cách sửa mình) còn đều là những sáng tác theo chủ điểm: trường học, luân lý, lịch sử, phong cảnh đất nước, một số hiểu biết về tự nhiên hoặc xã hội… Nhưng bất kỳ mô phỏng hay sáng tác, những bài quốc văn đều ngắn gọn, lời văn sáng sủa, đôi khi giải thích một vấn đề khó, trừu tượng hoặc mang một ý nghĩa triết lý nhân sinh nhưng vẫn dễ hiểu đối với lứa tuổi mới cắp sách đến trường(12). Chúng ta ai đã học ít nhiều ở trường Pháp – Việt trước 1945 hẳn cũng còn nhớ một vài câu rất ấn tượng: về một niềm vui nho nhỏ của một cậu bé “nhà quê”, một niềm vui làm ta bất ngờ: Ai bảo chăn trâu là khổ? Không, chăn trâu sướng lắm chứ! Hay nỗi buồn, nỗi buồn của một chú bé lần đầu tiên xa nhà không da diết lắm nhưng cũng không kém phần sâu sắc: “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Nhà văn Sơn Nam đã từng viết về ảnh hưởng sâu sắc của những sách giáo khoa này đối với cả một thế hệ người Việt ở nông thôn cũng như ở thành thị, trong truyện ngắn nổi tiếng “Mối tình giáo khoa thư”.

Minh hoạ cũng là một bộ phận cấu thành của các cuốn sách. Nó làm cho nội dung phong phú hơn, sâu sắc hơn và cũng dễ hiểu hơn. “Sự mở mang của người Pháp ở xứ ta” trong sách luân lý lớp Sơ đẳng chỉ có một bài nhưng những minh hoạ đẹp về trường Cao đẳng, nhà Bưu chính, nhà thương chữa mắt, cầu Hàm Rồng… đã gây ấn tượng khá đậm trong đầu óc ngây thơ của trẻ em về những công trình hiện đại của người Pháp bên cạnh những bức tranh quen thuộc về cảnh gia đình, làng xóm… Riêng Sử ký là cuốn sách có ưu thế nhất về minh hoạ, với tranh những vị võ tướng xưa giáp trụ oai phong, trường đao, đoản kiếm đầy vẻ lẫm liệt (Triệu Quang Phục, Lữ Gia…), Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt phun ra lửa, vung roi sắt diệt giặc Ân, hoặc “quân đi điệp điệp trùng trùng” giữa đoàn voi chiến của “Hai Bà Trưng đánh giặc Hán”… đã làm tăng thêm thích thú học sử của lứa tuổi thiếu nhi.

Tuy nhiên bộ sách cũng bộc lộ một vài thiếu sót như chữ “hiếu” đã nói kỹ trong sách luân lý nhưng còn lặp lại quá nhiều trong sách quốc văn sẽ gây nhàm chán cho người đọc. Về các bài học, nói chung ngắn gọn nhưng trong sách Luân lý có những bài giải thích dài dòng (Ăn uống có điều độ, không nên nghiện rượu…). Hình thức trong Quốc văn giáo khoa thư có thể còn phong phú hơn nếu các tác giả chú ý đến các thể loại về tường thuật, tả cảnh, tả tình, thơ… thì còn gây thêm hứng thú cho người đọc.

Vài nhận xét

Bộ sách giáo khoa bậc Sơ học do Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn ra đời vào lúc cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1917) đã tiến hành được gần 10 năm và đang đi dần vào ổn định. Chữ Quốc ngữ được phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến đây đã qua khỏi bước chập chững buổi đầu, trở nên nhuần nhuyễn hơn. Riêng đối với các tác giả thì đều là những người sâu sắc cựu học vững vàng tân học, đa số là giáo chức ngạch bậc cao như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc (thanh tra tiểu học), Đặng Đình Phúc (giáo viên hạng nhất ngạch bản xứ), hoặc có địa vị xã hội khá cao (Đỗ Thận, Uỷ viên hội đồng Thành phố) và tất cả đều đã từng viết sách giáo khoa, nhất là Trần Trọng Kim và Đỗ Thận. Do đó từ việc lựa chọn nội dung, cách diễn đạt đều có một văn phong thống nhất, trong sáng và dễ hiểu. Đặc biệt trong tất cả các cuốn sách bóng dáng của những quan cai trị người Âu đều rất thưa vắng. Ngoại trừ Paul Bert viên Tổng trú sứ kiêm nhà khoa học, nhà giáo dục và Bá Đa Lộc người đã giúp Gia Long đánh bại nhà Tây Sơn ra, còn lại là những nhà khoa học lớn của nhân loại hoặc của dân tộc Việt Nam như Pasteur, Alexandre de Rhodes, một trong những người sáng chế ra chữ Quốc ngữ, hay bà phước Phêlixien đã tận tâm săn sóc người bị bệnh phong và đã từ trần ở Sóc Trăng vào cuối thế kỷ XIX. Nếu ta biết rằng ở giai đoạn trước (1906-1917) người ta đã đưa cuốn “Đại Pháp công thần” của Lê Văn Thơm làm sách giáo khoa nhằm ca ngợi “mẫu quốc” Pháp, thì ở đây những cuốn sách giáo khoa do Trần Trọng Kim chủ biên đã có tính dân tộc rất cao, trong lịch sử là những anh hùng cứu nước, những vị vua sáng lập ra các triều đại, trong luân lý quốc văn là những người con hiếu thảo, nhằm nêu gương sáng về đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, tu thân, tề gia, quốc trị… Tất cả đã quán xuyến toàn bộ sách giáo khoa Sử ký Địa dưLuân lý và đặc biệt là ba cuốn Quốc văn giáo khoa thư của các lớp Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng. Đó chính là những “giá trị dân tộc đích thực” (chữ của Trịnh Văn Thảo trong “Nhà trường Pháp ở Đông Dương”) và nhóm biên soạn đứng đầu là Trần Trọng Kim xứng đáng được đánh giá cao là những nhà sư phạm sáng giá, những nhà biên soạn sách giáo khoa mẫu mực của một giai đoạn lịch sử giáo dục của dân tộc ta.

CHÚ THÍCH

  1. Trương Vĩnh Ký, Abrégé de grammaire Annamite (Sơ lược ngữ Pháp An Nam), Sài Gòn, 1867; Cours d’histoire annamite (Lịch sử nước An Nam), Sài Gòn, 1875; Petit cours de geographie de la Basse Cochinchine (Sơ lược địa dư An Nam lục tỉnh), Sài Gòn, 1875; Thông loại khóa trình, Sài Gòn, 1888; Cours d’annamite (Bài tập tiếng An Nam), Sài Gòn, 1889. Huỳnh Tịnh CủaSách bác học sơ giải, Sài Gòn, 1887. Trương Vĩnh Ký, Tập dạy học tiếng Pha lang sa và tiếng Annam, Sài Gòn, 1892.
  2. Gourdon, Bác vật sơ độc nhập môn – Vô sanh động vật. Nguyễn Văn Mai dịch, Sài Gòn 1911. Ph. Eberhardt, Bài cách trí với tập đọc. Tập II. Thực vật, Trần Văn Thông dịch, Hà Nội 1912. Tập III.Người và động vật. Phạm Văn Hữu (giáo thụ trường Sư phạm Hà Nội) dịch, Hà Nội, 1912. Ruissier, Đông Dương địa dư, Đỗ Thận dịch.
  3. Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Sử ký Địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, in lần thứ 8, 1935, tr.1.
  4. Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Sử ký địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng (In lần thứ 3, Hà Nội, 1928, tr.13, 17).
  5. Sđd, tr.91.
  6. Bài mẫu: Địa dư tỉnh Hà Đông: 1. Hình thể; 2. Chính trị (Dân sự, cai trị); 3. Giao thông; 4. Kinh tế, sản vật công nghệ, thương mại. Thời gian này đã xuất hiện một số sách đại dư các tỉnh Nghệ An của đốc học Đào Đăng Hy, Hà Tĩnh của đốc học Trần Kinh, địa chí tỉnh Vĩnh yên của Nha học chính Vĩnh Yên…
  7. Sách này do bốn tác giả Trần Trọng Kim Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Bốn chương chính: 1. Bổn phận đối với gia tộc; 2. Bổn phận đối với học đường; 3. Bổn phận đối với bản thân; 4. Bổn phận đối với xã hội.
  8. Ví dụ bài nói về “Phép dưỡng sinh”: Ăn không no quá, uống không nhiều quá, đồng đừng ấm quá, hè đừng mát quá, ngủ sớm dậy sớm, có giờ có giấc, làm lụng có chừng, nghỉ ngơi có độ, chơi bời vừa phải, đừng có điều gì thái quá. Tiểu dẫn: Hoa Đà trả lời học trò về cách sống lâu. Cách ngôn: Ăn để sống không phải sống để ăn.

Xem Lòng nhân ái, tiểu dẫn: Vua Lý Thánh Tôn cởi áo đắp cho người sắp bị chết rét. Cách ngôn: Thương người như thể thương thân.

Lòng thí xã, tiểu dẫn: Lê Lai cứu chúa. Cách ngôn: Cúc cung tận tuỵ, tử nhi hậu dĩ.

  1. Tạp chí Nam Phong, số 12 (6-1918), tr.331.
  2. Báo cáo của toàn quyền P. Doumer trước Thượng Hội đồng Đông Dương 1897 – 1902.
  3. 11.                     Lính thú đời xưa:

Ngang lưng thì thắt bao vàng

Đầu đội nón dấu vai mang súng dài.

Một tay thì cắp hoả mai,

Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền.

Thùng thùng đánh trống ngũ liên,

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Đi học thì phải đúng giờ

Xuân đi học coi người hớn hở

Gặp cậu Thu đi ở giữa đường

Hỏi rằng: sao đã vội vàng

Trống chưa nghe đánh tới trường làm chi

Thôi hãy hượm đừng đi anh ạ

Này con khăng tôi đã sẵn rồi

Cùng nhau ta hãy đánh chơi

Lát rồi ta sẽ tới nơi cũng vừa

Thu đáp: Dẫu giờ còn sớm

Cũng nên đi kẻo chậm làm sao?

Nếu chờ khi đánh trống vào

Dẫu ta rảo bước tài nào kịp cho

Trễ giờ ta phải nên lo

  1. Chuyện “Người đi đường với con chó”. Một người cưỡi ngựa bị một con chó đuổi theo. Người đi đường không cần đánh con chó mà chỉ kêu lên: Chó dại! Chó dại! Lập tức mọi người xung quanh đổ ra đánh chết con chó. Bài đọc kết luận: “Gớm thay! Lời nói có khi còn lợi hại hơn đồ binh khí”.

Giải nghĩa “mỹ thuật”…Cơm ăn đã vậy nhưng nếu xới vào bát kiểu và bằng đũa mun thì vẫn ngon hơn; quần áo mặc đã vậy nhưng điểm thêm cái nhẫn, chiếc vòng, đôi hoa thì người mới đẹp thêm ra…

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

157. HIỆN TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 6, 2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

HIỆN TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Bảy, ngày 02/07/2011

(Đài Ôxtrâylia 27/6)

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, tỉ lệ lạm phát trong tháng 6 vừa qua đã lên đến 21% khiến Việt Nam trở thành một trong năm nước có tỉ lệ lạm phát cao nhất thế giới hiện nay.

Sau thời kỳ siêu lạm phát vào những năm 1980, cách đây hơn hai năm (2008) người ta lại chứng kiến lạm phát tại Việt Nam tăng lên đến 28%. Chuyên gia kinh tế Adam McCarty, trưởng nhóm chuyên gia kinh tế của Công ty Tư vấn Mekong Econnomics, cho rằng lạm phát 2011 cũng sẽ tăng lên mức đỉnh điểm 25%.

 

Hiện nay, cả đất nước và người dân Việt Nam đang phải đương đầu với lạm phát không ngừng leo thang. Giá lương thực, thực phẩm trong những tháng qua đã tăng một cách chóng mặt.

Giáo sư Adam Fforde thuộc Trung tâm Kinh tế Chiến lược, Đại học Victoria (Ôxtrâylia), cho biết lạm phát bắt nguồn từ việc nới lỏng tín dụng khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 và những can thiệp của chính phủ vào hoạt động của Ngân hàng nhà nước càng làm cho tình hình xấu đi. ông Fforde nói: “Tôi cho rằng những can thiệp chính trị như thế sẽ tiếp tục tồn tại, trừ phi Việt Nam có một người lãnh đạo có đủ tầm để hoạch định chiến lược cho cả nước hoặc có sự thay đổi trong hệ thống chính trị và bộ máy chính phủ có quyền lực thực sự”.

Bên cạnh đó, mức lãi suất của Việt Nam cũng rất cao. Trong một đánh giá mới đây nhất của mình, Ngân hàng Thế giới cho biết nền kinh tế Việt Nam đã mất đi sự tín nhiệm của người dân. Nguyên nhân là do những chính sách thiếu đồng bộ và nửa vời cũng như chính phủ chủ yếu chú trọng vào việc tăng trưởng kinh tế hơn là kiềm chế lạm phát. Mặc dù vậy, ông Adam McCarty cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP 6% như hiện nay là vẫn còn thấp. “Việt Nam đáng lý phải tăng trưởn với tốc độ 10%/năm như Ấn Độ hiện nay. Vì thế, tôi nghĩ Việt Nam vẫn còn những bất cập về cơ cấu cần được giải quyết để tăng năng suất lao động và thúc đẩy sự phát triển”.

Trong bối cảnh giá lương thực, thực phẩm, điện, nước và nhiên liệu vẫn không ngừng tăng, ngày càng có nhiều công nhân Việt Nam đình công đòi tăng lương. Sau những nỗ lực điều đình, lương của một số công nhân có tay nghề đã được tăng. Mặc dù vậy, do lạm phát tăng cao, sự tăng lương của họ là không đáng kể, thậm chí thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí của họ còn bị giảm xuống so với trước đây. Bên cạnh đó, vẫn còn một số lớn những người lao động không được tăng lương. Ông McCarty cho biết: “Một phần trong số đó là người lao động trong ngành nông nghiệp và những người đang làm việc trong các xí nghiệp. Vì vậy, trong hơn một năm qua, họ đình công nhiều hơn để đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình mình”.

Thiếu giải pháp đồng bộ, hiệu quả

Ông McCarty cho biết Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các giải pháp để kiềm chế lạm phát, trong đó chính sách siết chặt tín dụng đã phát huy một phần tác dụng. Tuy nhiên, một số biện pháp khác lại gây thiệt hại cho nên kinh tế hơn là phát huy hiệu quả. Ông nói: “Điển hình là các nhà hoạch định chính sách đã đánh giá chưa đúng mức tình trạng bấp bênh của các doanh nghiệp do những thay đổi thường xuyên trong các điều luật quản lý doanh nghiệp nhỏ gây ra. Họ đã đề ra thêm nhiều văn bản pháp lý nhằm hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng để tiến tới cân bằng cán cân thương mại. Tuy nhiên, điều này lại gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu”.

Trước câu hỏi về tính hiệu quả của các khoản đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước, ông McCarty cho biết trong những năm qua, Việt Nam vẫn chưa giải quyết được bài toán này và đó chính là gốc rễ gây ra sự trì trệ kinh tế. Chính phủ cũng đã đưa ra hàng loạt các chính sách, biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát nhưng sau đó lại nới lỏng tín dụng và tiếp tục cho các doanh nghiệp nhà nước vay tiền và điều này gây ra sự thiếu đồng bộ trong chính sách.

Giáo sư Fforde thì cho rằng sự đình công của công nhân không phải là một mối đe doạ với chính quyền nhưng nó cũng cho thấy sự cần thiết phải có sự thay đổi về mặt chính trị. Tuy nhiên, ông tỏ ra khá bi quan về vấn đề này trong tương lai gần.

***

(Đài RFI 13/6)

Ngoài hiểm hoạ Trung Quốc lấn chiếm lãnh hải trên Biển Đông, Việt Nam còn đang phải đối đầu với một cuộc xâm lăng khác về mặt kinh tế, thể hiện qua con số nhập từ Trung Quốc ngày càng lớn và tình trạng hàng hoá Trung Quốc, trong đó có nhiều hàng độc hại, đang tràn ngập thị trường Việt Nam.

Trung Quốc hiện nay đã trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, vượt qua cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhập siêu của Việt Nam và Trung Quốc đã tăng liên tục kể từ khi hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc có hiệu lực ngày 1/72005. Nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây, từ mức 2,67 tỷ USD năm 2005 vọt lên tới 12,7 tỷ USD năm 2010, tức là tăng gấp gần 5 lần!

Theo các số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, trong 5 tháng đầu năm nay, mức thâm hụt mậu dịch, tức là nhập siêu, của Việt Nam đã lên tới khoảng 6,5 tỷ USD và trong đó phần lớn vẫn là nhập siêu từ Trung Quốc. Nói chung, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc hiện là lớn nhất.

Cho đến nay, Việt Nam xuất sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu thô, khoáng sản, nông lâm thuỷ sản, trong khi Trung Quốc bán sang Việt Nam chủ yếu là phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, phụ tùng, hàng chế biến theo nguyên liệu như vải, chất dẻo… để Việt Nam chế biến hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.

Trả lời phỏng vấn RFI, ông Nguyễn Trần Bạt, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư cho rằng nhập siêu từ Trung Quốc là vấn đề rất nan giải và đang gây rất nhiều khó khăn cho ngành sản xuất của Việt Nam.

Theo phân tích của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP) thuộc Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, “chính sách thương mại và công nghiệp của Việt Nam chưa phát huy được tác dụng trước làn sóng hàng Trung Quốc đa dạng và giá rẻ. Việt Nam cũng thiếu vắng những hàng rào kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc. Không những thế, Trung Quốc lại biết tận dụng lợi thế của các thoả thuận thương mại khu vực”.

Ngược lại, theo VERP, “hàng hoá của Việt Nam có khả năng cạnh tranh kém cả về giá cả và chất lượng nên khó thâm nhập thị trường Trung Quốc. Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sáng Trung Quốc là khoáng sản và nông lâm thuỷ sản với số lượng nhỏ, giá cả bấp bênh”.

Để giải bài toán nhập siêu từ Trung Quốc, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, giám đốc VERP cho rằng, “cần có các giải pháp đồng bộ, không chỉ về chính sách thương mại mà cả về chính sách đầu tư, chính sách công nghiệp trong cơ chế chọn nhà thầu khoán”. Nhưng nói thì dễ, theo ông Nguyễn Đức Thành, “đây hoàn toàn không phải là điều đơn giản trước sự hiện hữu ngày càng lớn của kinh tế Trung Quốc trên toàn thế giới”.

Bên cạnh tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc, một vấn đề còn nghiêm trọng hơn cả đó là sự tràn ngập hàng hoá Trung Quốc trên khắp Việt Nam. Tờ Sài Gòn Giải Phóng Online vừa qua đã có bài báo động về tình trạng hàng giá rẻ kém chất lượng, vừa độc hại của Trung Quốc đang tràn ngập thị trường Việt Nam, như đồ chơi trẻ em có nồng độ chì vượt mức cho phép, điện thoại iPhone made in China mới dùng có hai tuần sóng đã chập chờn, tiếng lúc được lúc mất, radio sau một tháng tiếng phát ra như người bị nghẹt mũi.

Nguy hiểm hơn cả là nhiều thực phẩm ở Việt nam hiện nay dùng các chất phẩm màu gây ung thư có nguồn gốc từ Trung Quốc, chưa kể sữa nhiễm melamine, trứng gà, gia vị lẩu, tương ớt có nguy cơ gây ngộ độc hoặc ung thư. Ngay cả chăn đệm, quần áo Trung Quốc cũng đe doạ sức khỏe con người vì có chất phoócmađêhít gây hại cho da. Rồi còn phải kể đến trà trân châu bằng polymer, trứng gà giả. Đồ trang sức “Made in China” cũng kinh khủng không kém. Mới đây lại có thông tin về ly cốc thuỷ tinh của Trung Quốc bị nhiễm độc chì nhưng vẫn được ồ ạt nhập vào bán ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Khôi hài hơn nữa là chuyện taxi đang chạy bị rơi hai bánh xảy ra ngày 7/6 vừa qua tại thành phố Huế. Thì ra đó là một chiếc xe do hãng Lifan của Trung Quốc sản xuất!

Trước sự độc hại của nhiều mặt hàng Trung Quốc, một số người tiêu dùng ở Việt Nam, nhất là những người có mức thu nhập từ trung bình trở lên, đã bắt đầu tẩy chay rau quả Trung Quốc, chuyển sang mua rau quả nhập từ Mỹ, Ôxtrâylia hay Niu Dilân, an toàn hơn. Ngay cả những người thu nhập thấp cũng quay sang mua rau quả Việt Nam, ít ra còn bảo đảm là không bị nhiễm độc.

Những hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam trong những ngày qua đang làm dấy thêm phong trào tẩy chay hàng Trung Quốc, đẩy mạnh tinh thần “Người Việt dùng hàng Việt”. Nhưng nếu ngành công nghiệp Việt Nam không đủ sức tạo ra những hàng hoá vừa giá rẻ, vừa bảo đảm chất lượng, cạnh tranh được với hàng Trung Quốc, thì phong trào dùng hàng nội cũng chẳng đi đến đâu. Bên cạnh đó, nếu các nhà quản lý không đủ sức ngăn chặn những con đường nhập hàng ồ ạt qua biên giới phía Bắc, thì các sản phẩm độc hại của Trung Quốc tiếp tục đe doạ sức khoẻ của người dân Việt Nam.

***

(Đài BBC 20/6)

Nguyễn Hoàng trò chuyện với ông Dominic Scriven, Tổng Giám đóc Dragon Capital, về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.

– Xin chào ông, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là FDI chiếm một tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế Việt Nam, chắc hẳn các nhà đầu tư nước ngoài phải thấy ở Việt Nam có một điểm gì đó hấp dẫn?

+ Quả thực, vai trò của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là rất lớn, nếu tính theo GDP khi so với Trung Quốc và các nước khác. Đầu tư nước ngoài chia thành 2 phần, một phần lớn nhất là đầu tư trực tiếp còn gọi là FDI và FDI chủ yếu từ các tập đoàn đa quốc gai đến Việt nam để lập những cơ sở sản xuất. Một số điển hình là Tập đoàn Intel của Mỹ vừa khởi động nhà máy sản xuất lớn nhất của Intel trên thế giới. Mới đây, Tập đoàn Nokia lập nàh máy thứ 6 của họ trên toàn cầu tại Việt Nam… Lý do những nhà đầu tư này có mặt ở Việt Nam là vì cơ sở chi phí có thể cạnh tranh được, gồm có chi phí lao động và các chi phí khác. Dù có nhiều vật chất về hạ tầng cơ sở, suy cho cùng, hạ tầng cơ sở của Việt nam cũng tạm ổn, không cản trở những quá trình sản xuất của họ. Còn có một loại đầu tư nước ngoài thứ hai, cũng gọi là đầu tư trực tiếp tại Việt Nam vào thị trường trong nước, thị trường tiêu dùng, thị trường bán lẻ. Còn có loại đầu tư nước ngoài thứ ba, đó là đầu tư gián tiếp hay là đầu tư tài chính, thông thường là dạng đầu tư nước ngoài đến sau, mới phát triển mấy năm nay.

– Ở đây có những nhà đầu tư dài hạn và những nhà đầu tư ngắn hạn. Ông có lời khuyên nào dành cho nhà đầu tư dài hạn và nhà đầu tư ngắn hạn?

+ Phải nói thật, đầu tư ngắn hạn tại Việt Nam là không nên, cũng giống như các thị trường mới nổi khác thì bài toán đầu tư phải là bài toán dài hạn. Vì sao thế? Là vì sự phát lâu dài cho một nền kinh tế như Việt Nam là khá ấn tượng. Nhưng vì cơ cấu thể chế và các công cụ điều hành kinh tế, kể cả cách phát triển của xã hội khó có thể dự báo nên dễ có những biến động trong thời gian đó. Vì thế, đầu tư tại Việt Nam nên có một tầm nhìn dài hạn. Nhưng phải nói rằng đây là thời điểm tốt để đầu tư, nếu đã đầu tư rồi thì đây là thời điểm nên kiên nhẫn và bình tĩnh để qua chu kỳ khó khăn này, vì chắc chắn nó sẽ khởi sắc trở lại.

– Chắc hẳn ông đã có dịp gặp các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam trong quá trình tiếp xúc khi hội thảo, khi ngồi nói chuyện bàn thảo với họ về mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, những hướng đi của nền kinh tế. Ông có nhận xét gì về giới lãnh đạo của Việt Nam, những mong muốn tầm nhìn của họ như thế nào ở trong khu vực?

+ Tôi có gặp một số vị lãnh đạo, tôi thấy có một điều tương đối bất ngờ là vai trò của “thành phần nước ngoài” lớn. Trong sản xuất công nghiệp của Việt Nam hiện nay, thành phần các doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài chiếm phần lớn nhất, đồng thời là thành phần tăng trưởng nhanh nhất. Rõ ràng đây là đầu tư trực tiếp, kể cả trong lĩnh vực kinh doanh của mình, tôi có thể khẳng định rằng Việt Nam khá cởi mở đối với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt so với một số nước khác như Trung Quốc chẳng hạn.

– Ông đã sống ở Việt Nam 20 năm, có những lý do gì khiến ông chọn Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đặt trụ sở kinh doanh của mình, hay vì ông dự đoán được ở đó có thị trường chứng khoán trước?

+ Đúng như anh nói, năm nay là năm thứ 20 tôi ở Việt nam và nơi tôi đặt chân đến đầu tiên là thủ đô Hà Nội. Tôi đăng ký học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 2 năm. Tuy nhiên, khi học xong, tạii Hà Nội không có nhiều công việc, nên khi có một cơ hội ở trong Nam, tôi đã vào đó đến bây giờ. Đúng như anh nói, trụ sở của tôi ở trong Nam. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi không kinh doanh tại Hà Nội, tôi cũng thấy nhiều người gốc Bắc vào lập nghiệp trong Nam cho nên cũng không phải chỉ một mình tôi đi theo hướng đó.

***

(Đài RFA 21 và 28/6)

Chỉ còn chưa đến 10 năm tính đến thời điểm Việt Nam phải trở thành nước công nghiệp hoá, tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn còn là một vấn đề gai góc, nhất là khi lượng vốn đầu tư cho lĩnh vực này rất cao, khả năng thu hồi vốn chậm.

Vì lý do nêu trên nên việc Chính phủ huy động đầu tư từ khối ngành tư nhân trong nước và nước ngoài là điều hết sức cần thiết. Nhưng mô hình kết hợp công tư này có điểm gì đặc biệt?

Mô hình đối tác công tư (PPP)

Mô hình đối tác công tư là hình thức đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ sở gồm 9 lĩnh vực trọng yếu như đường bội, giao thông đô thị, cảng hàng không, cảng biển, hệ thống nước sạch, nhà máy điện, môi trường, y tế… với việc tham gia đầu tư của nhà nước không quá 30% vào dự án, phần còn lại là của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, khu vực tư nhân ở đây phải được hiểu theo nghĩa là của cả nhà đầu tư trong nước lẫn ngoài nước.

Tại Việt Nam, cần có sự góp vốn đầu tư của tư nhân vào những dự án mà khả năng thu hút vốn đầu tư không hấp dẫn, thời gian và khả năng thu hồi vốn lâu, trong khi những công trình này nhà nước cần phải đầu tư ngay, nhằm phát triển kinh tế xã hội cho cả vùng hay một khu vực.

Ông Nguyễn Văn Bảo, Phó Vụ trưởng Vụ Kết cấu Hạ tầng Cơ sở (Bộ Kế hoạch Đầu tư) cho biết: “PPP là một chương trình mà khung pháp lý hiện nay đang thí điểm chứ chưa hoàn thiện, mục tiêu của Chính phủ nghiên cứu là để hợp tác công tư. Nhà nước bỏ ra tuỳ theo từng dự án, nhưng tối đa chỉ là 30% tổng vốn đầu tư, còn lại phải đề nghị các nhà đầu tư mà chủ yếu là ở nước ngoài trực tiếp bỏ vốn vào cũng nhau thực hiện dự án”.

Ông Bảo cũng giải thích thêm về bản chất thì mô hình PPP dựa trên hình thức BOT: xây dựng, vận hành, chuyển giao hoặc BT: xây dựng, chuyển giao do nhà đầu tư đầu tư 100% vốn xây dựng rồi sau khi hết thời gian thu hồi vốn và lãi, sẽ chuyển lại cho nhà nước quản lý. Còn với hình thức PPP này, thì nhà nước và tư nhân cũng nhau chia sẻ mức vốn đầu tư cũng như những lợi ích, rủi ro và độ phức tạp từ dự án.

Còn chập chững

Ở các nước trên thế giới thì hình thức đối tác công tư PPP này không phải là mới mẻ, mà đã có khoảng 50 năm nay, nhưng ở Việt Nam thì mới đang ở những bước đi chập chững đầu tiên và mới chỉ dừng lại ở các mô hình thí điểm, như dự án đầu tiên là đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết đang được giao cho Bộ Kế hoạch Đầu tư thực hiện. Câu hỏi đặt ra là tại sao khối ngành tư nhân trong và ngoài nước lại muốn tham gia những dự án hạ tầng đòi hỏi vốn lớn và thời gain thu hồi chậm như vậy. Trả lời câu hỏi này, một chuyên gia thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư chia sẻ: “Nhà đầu tư là nhà thầu tự thi công, bởi vì trong thi công đã có phần lãi trong đó. Cái lợi mà nhà đầu tư có thể thu được ngoài những kỳ vọng vào việc thu phí cầu đường, cầu cảng… thì họ lại còn chính là nhà thi công, mà điểm này mới là quan trọng. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, áp dụng hình thức PPP sẽ giải quyết được nhiều bài toán về ùn tắc giao thông, tạo việc làm cho người lao động tại địa phương…”

Lợi ích và rào cản

Tác động tích cực nhất của Quy chế thí điểm PPP sẽ là mở ra cơ hội, điều kiện huy động nguồn vốn của khu vực tư nhân và nước ngoài vào việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, đồng thời tận dụng được năng lực, kỹ thuật và kinh nghiệm của các nhà đầu tư. Tuy thế, cũng giống nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thức PPP này hiện cũng đang vấn phải một vấn đề rào cản khi thực thi là làm sao quản lý nguồn vốn này. Vị chuyên gia này cho biết tiếp: “Rào cản thực thi PPP là việc quản lý nguồn vốn đầu tư vào dự án đó, ai đứng ra quản lý và quản lý như thế nào, đầu tư ra sao là vấn đề cơ bản nhất”.

Ngoài rào cản về quản lý nguồn vốn, hiện nay còn có những rào cản khác là những dự án cần kêu gọi đầu tư hiện chưa được lập và phân tích một cách cụ thể. Tất cả mới chỉ dừng lại trên con số chung chung 30% và 70%. Vì thế, nhiều dự án chưa biết sẽ mang lại hiệu quả hài hoà ra sao cho nhà đầu từ và cho Chính phủ. Khi các dự án khó thực hiện, với mức thu hồi thấp, thì nhà nước cần có chính sách cởi mở hơn nữa, không quy định cứng nhắc bao nhiêu phần trăm. Vì trước đây, kết cấu hạ tầng nhà nước phải bỏ ra 100%, nếu ta có thể huy động 50%, nhà nước bỏ ra 50% là điều chấp nhậnd dược. Học tập kinh nghiệm của Malaixia, có những dự án nhà nước bỏ ra 70%, tư nhân bỏ ra 30%, một công trình tính ra 90 năm mới thu hồi vốn, nhà đầu tư thu hồi vốn trước trong vòng 30 năm, rồi bàn giao lại cho chính phủ. Bên cạnh đó, cơ chế pháp lý liên quan đến công tác đấu thầu các dự án đầu tư vẫn là việc cần phải bàn đến. Vị chuyên gia nói thêm: “Vấn đề thứ hai là chuyện đấu thầu giữa các nhà đầu tư để tham gia hình thức PPP, phần đấu thầu hiện nay cũng gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vì một nàh đầu tư khi tham gia đầu tư họ phải chuẩn bị khá lâu, thậm chí có những dự án 5 năm. Nhưng hiện nay khung pháp lý của Việt Nam, chính xác mà nói thì vẫn căn cứ theo Nghị định 78 là cơ sở pháp lý duy nhất vì đó là nghị định chứ còn Quyết định 71 thì chỉ là quyết định của Thủ tướng mà thôi”.

Nhà nước cần làm gì?

Vậy để PPP trở thành một kênh thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân hiệu quả hơn nữa, phía Chính phủ cần phải làm gì? Theo nhiều chuyên gia kinh tế thì hiện tại việc tính toán hiệu quả đầu tư, để từ đó phân chia hài hoà lợi ích giữa Chính phủ và nhà đầu tư vẫn là một trở ngại. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần có những hình thức hỗ trợ thêm về thuế, quy đổi ngoại tệ… Vì thế cần phải có một đội ngũ chuyên gia tính toán như thế nào cho chính xác và từ đó kêu gọi đầu tư, rồi có những cơ chế về thuế, nguồn thu, quy đổi ngoại tệ.

Có thể nói, để thu hút được thêm mọi nguồn vốn đầu tư từ cả trong nước lẫn nước ngoài, nhất là cho những dự án cơ sở hạ tầng lớn, thì hình thức mới PPP được xem là một trong những giải pháp và bước đi được tập trung mạnh trong thời gian tới.

Tuy vậy, để mô hình thí điểm đó trở thành thực tế lại là cả một bước dài thực hiện. Bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế độc lập nhận xét: “Trước đây, gần như truyền thống của Việt Nam là chỉ có nhà nước thực hiện phát triển cơ cấu hạ tầng nên PPP cũng là ý tưởng mới của nhà nước. Tuy nhiên điều này cần phải làm một cách nhanh chóng hơn nữa, chứ còn chỉ thí điểm trong một vài trường hợp, rồi phải chờ rất lâu sau mới mở rộng thì có lẽ khó đạt được yêu cầu phát triển của Việt Nam hiện nay”.

Có lẽ kết luận của bà Phạm Chi Lan cũng là mong muốn của nhiều người dân ở những nơi mà học sinh còn phải trèo qua những câu cầu khỉ đi học, trẻ nhỏ còn phải băng qua hàng chục km đường đèo đến trường hay những nơi vùng sâu vùng xa chưa bao giờ nhìn thấy bóng đèn điện. Việc xây dựng nhanh chóng hạ tầng thiết yếu, phục vụ đời sống người dân là điều đang rất được mong chờ.

***

Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam phụ thuộc xuất khẩu dẫn đến phát triển xuất khẩu ồ ạt không bền vững. Chính phủ đã nhận biết được điều đó nhưng việc chuyển đổi cơ cấu vẫn mãi dậm chân tại chỗ. Việt Nam trù liệu việc giảm tốc độ sau một thập niên phát triển xuất khẩu bằng mọi giá để đạt tăng trưởng kinh tế. Theo các số liệu chính thức, trong 10 năm đầu thế kỷ 21 mức tăng GDP bình quân của Việt Nam là gần 8% và tăng xuất khẩu gần 19%.

Xuất khẩu nguyên liệu thôi chiếm 70%

Tiến sĩ (Ts) Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập từ Hà Nội nhận định: “Hiện nay xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ và xuất khẩu trong 10 năm gần đây không thay đổi được nhiều. Xuất khẩu tới 70% là các sản phẩm thô là dầu thô, than đá, cao su, các khoáng sản, nông sản như gạo, cà phê nâhn, hồ tiêu… còn sản phẩm công nghiệp như dệt may thì trong đó phần lớn nguyên liệu dệt may phải nhập từ Trung Quốc. Tức là xuất khẩu chậm chuyển biến, chậm tiến lên một nền xuất khẩu dựa vào công nghệ cao và dựa vào giá trị gia tăng cao hơn”.

Cao su là nông sản đạt kim ngạch xuất khẩu 2,3 tỷ USD vào năm 2010. Một trong các thí dụ điển hình được đề cập là Việt Nam xuất khẩu mủ cao su tự nhiên rất nhiều nhưng lại phải nhập lốp xe cũng như hầu hết sản phẩm cao su. Ts. Trần thị Thuý Hoa, Tổng thư ký Hiệp hội cao su Việt Nam nhận định: “Ngành cao su xuất khẩu nguyên liệu thô chiếm 80%. Sản phẩm cao su trong đó có lốp xe vẫn còn ít, chúng tôi cũng nhận thấy phát triển như vậy chưa bền vững cho nên sắp tới phải đẩy mạnh các sản phẩm cao su xuất khẩu và giảm bớt xuất khẩu nguyên liệu thô. Đấy là xu hướng của ngành cao su trong tương lai. Chúng tôi cố gắng giảm xuất khẩu thô từ 80%-85% xuống còn 70%, để dành nguyên liệu cho sản xuất trong nước”.

Ts. Đinh Văn Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại Bộ Công thương xác nhận với báo chí là trong giai đoạn 2011-2020, nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 7,5% đến 8% nhưng tăng trưởng xuất khẩu sẽ chỉ gâp 1,5 lần thay vì hơn 2 lần như giai đoạn trước. Việc giảm tốc độ xuất khẩu khá lớn đòi hỏi phải tái cấu trúc cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu.

Trả lời chúng tôi, Ts. Lê Đăng Doanh bày tỏ e ngại nếu không có hành động kịp thời, một số ngành hàng xuất khẩu qua gia công sẽ gặp nhiều khó khăn. Ông nói: “Cần thấy là trong những năm gần đây lạm phát tăng lên, Việt Nam đã phải điều chỉnh tỷ giá đồng tiền, tăng giá xăng dầu, tăng tiền lương. Nếu như xu hướng này tiếp tục, thì ngành dệt may Việt Nam trong vòng 5 năm nữa, theo sự tính toán của cá nhân tôi, sẽ mất khả năng cạnh tranh với những sản phẩm của Bănglađét hay của Inđônêxia vì giá dệt may trên thị trường thế giới mang tính cạnh tranh. Trong khi đó, ở trong nước những yếu tố đầu voà của ngành dệt may liên tục tăng lên, điện tăng, xăng dầu tăng, tiền lương tăng lên, cước phí vận tải tăng lên và do phá giá đồng tiền cho nên các sản phẩm nhập khẩu chiếm đến 70-75%. Giá thành hàng dệt may xuất khẩu từ Việt Nam cũng tăng lên và lúc bấy giờ hàng dệt may Việt Nam không thể còn năng lực cạnh tranh với các sản phẩm của Inđônêxia và Bănglađét. Đó là một trong những điều hết sức đáng lo ngại”.

Chính sách nội địa hoá chưa thực sự phát huy

Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Da giày Việt Nam đồng thời là Phó chủ tịch Hội Dệt may thêu đan thành phố Hồ Chí Minh, nhận định là chính phủ có những chủ trương tốt nhưng khi thực hiện thì không mang lại hiệu quả: “Chúng tôi cho rằng chính sách nội địa từ công nghiệp lắp ráp rồi sản xuất da giày, dệt may… và nhiều ngành khác nữa chính là để giúp giảm nhập siêu. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua cả doanh nghiệp lẫn chính phủ đều đánh giá là những chính sách đó chưa thực sự phát huy tác dụng. Do đó, vẫn tiếp tục nhập khẩu và tình trạng nhập siêu tiếp tục xảy ra. Trong khoảng thời gian 1 năm trở lại đây chính phủ đã quyết liệt hơn trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hoá”.

Về nông sản, mục tiêu giảm xuất khẩu thô để gia tăng các sản phẩm chế biến là một vấn đề nan giải vì cần xây dựng thương hiệu, vốn đầu tư lớn và thời gian chuẩn bị cho công nghệ. Có một vài sự tiến triển ở ngành cà phê nhưng chậm và sản lượng cà phê qua chế biến là không đáng kể, có chuyên gia nói rằng 15 năm nữa cà phê Việt Nam sẽ vẫn cứ xuất nguyên liệu thô là chủ yếu.

Đối với ngành cao su, Ts. Trần thị Thuý Hoa nhận định: “Chỉ tiêu đặt ra tới năm 2015-2020 tiến đội vẫn chậm. Để cho khả thi, một mặt các doanh nghiệp trong nước nên tìm các sản phẩm thích hợp và thị trường thích hợp đối với các sản phẩm cao su. Ngoài ra chính phủ nên tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài. Để rút nhanh thời gian, nếu nước ngoài đầu tư vào sản phẩm cao su thì cần ưu tiên, ưu đãi để nâng lượng sản phẩm cao su lên, giảm xuất khẩu nguyên liệu thô”.

Việt Nam đang đứng trước các câu hỏi hóc búa, bắt nguồn từ tình trạng xuất khẩu nhiều mà không hiệu quả, tạo ra tình trạng mất cân bằng cán cân thương mại kéo dài. Hàng công nghiệp thì phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào, trong khi khoáng sản, nông sản xuất khẩu thô thì ít giá trị gia tăng. Nếu giảm tốc độ xuất khẩu nhanh thì hàng triệu người lao động mất việc làm dẫn tới bất ổn xã hội. Điều cần làm, theo các chuyên gia, là phải tái cơ cấu xuất nhập khẩu hay rộng hơn nữa là tái cơ cấu nền kinh tế. Nếu bây giờ chưa bắt đầu thì biết đến khi nào mới tới đích./.

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »

156. ASEAN giống như con tàu đang trôi giạt trên Biển Đông

Posted by embasam1 trên Tháng Bảy 5, 2011

Asia Times 

ASEAN giống như con tàu đang trôi giạt trên Biển Đông

David Brown

02-07-2011

Tranh chấp chủ quyền ở biển Đông bùng lên trong những tuần lễ gần đây đã biến thành một vụ cãi nhau không chỉ liên quan đến một vài nước láng giềng với nhau, mà còn quyết định tới một phép thử thực tiễn về quan niệm cho rằng Mỹ và Trung Quốc có thể phát triển một mối quan hệ “tích cực, hợp tác và toàn diện”.

Tranh chấp chủ quyền đối với 10 nước thành viên ASEAN giống như vết thương kinh niên mưng mủ đã nhiều năm nay nhưng chưa đến mức gây tàn tật. Nay thì việc Trung Quốc quấy rối tàu thăm dò dầu khí tại vùng biển mà Việt Nam và Philippines khẳng định chủ quyền, đã đưa những vấn đề biển Đông trở lại tình trạng khủng hoảng. Và hành động thách thức trơ tráo của Bắc Kinh đối với bộ nguyên tắc ứng xử đã được ASEAN ký kết năm 2002 đang thử thách xem liệu tổ chức này có còn tiếp tục đóng vai trò phù hợp nữa hay không trong những vấn đề an ninh khu vực.

Tác động của các tình huống diễn ra đã định hình nghị trình và nhấn mạnh tầm quan trọng của các cuộc gặp gỡ đa phương sắp diễn ra. Cuộc gặp gần đây nhất sẽ là Diễn đàn Khu vực châu Á tại Bali, Indonesia, nơi ngoại trưởng các nước ASEAN và ngoại trưởng các nước khác có liên quan, sẽ gặp nhau từ ngày 22-23 tháng 7. Ngoài ra Indonesia còn tiếp đón lãnh đạo các nước trong khu vực và thế giới tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á vào giữa tháng 11 năm nay.

Tranh chấp chủ quyền là một vấn đề ẩn chứa nhiều cạm bẫy nguy hiểm, đó là lời của nhà nghiên cứu Maria Monica Wihardja, người Indonesia. “Trong lúc Mỹ chỉ muốn đưa những vấn đề an ninh gay go ra thảo luận công khai – trong đó có vấn đề tự do hàng hải và ngăn chặn sự thống trị bành trướng trên biển Đông – thì Trung Quốc sẽ tìm mọi cách để tránh điều đó”.   Bà đã viết như vậy trên trang web của Diễn đàn Đông Á (Úc) và lưu ý rằng, Thủ tướng Trung Quốc, Ôn Gia Bảo trong một chuyến viếng thăm gần đây tới Indonesia, đã lặp lại rằng, ASEAN nên tiếp tục ngồi ở “ghế của người lái xe” tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Năm ngoái, tại Diễn đàn Khu vực châu Á, Trung Quốc và Mỹ đã va chạm nhau dữ dội. Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, đã tái nhấn mạnh các lợi ích chiến lược của Mỹ ở biển Đông. Phát biểu của bà đã được sáu trong số mười nước thành viên ASEAN ca ngợi; và ngoại trưởng Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì, đã nhận thức rõ rằng, ông ta đã bị phục kích.

Kể từ đó, dường như Trung Quốc có ý định chứng minh rằng, họ ngày càng có đủ khả năng quấy nhiễu hoạt động thăm dò dầu khí của các nước láng giềng, cả ở vùng biển có tranh chấp với Nhật Bản (khu vực các đảo Senkaku) lẫn ở biển Đông. Hôm 15 tháng 6, ngày mà chiếc tàu tuần tra hiện đại nhất của Trung Quốc, tàu Haisun 31, trọng tải 3.000 tấn có mang theo trực thăng, rời Quảng Đông để đi thăm Singapore, thì Lực lượng Giám sát Biển Trung Quốc (CMS) đã thông báo kế hoạch phát triển thêm hai phần ba số lượng tàu tuân tra 260 chiếc và 9 máy bay hiện có của họ vào năm 2020.

Trong các vụ đụng độ gần đây ở biển Đông, Trung Quốc đều cho rằng lực lượng của họ là nạn nhân của hành động gây hấn của Philippine và Việt Nam, tuyên bố này đã bị bác bỏ bởi băng video ghi lại một số sự cố. Bị hỏi về những sự cố này, các quan chức hải quân Trung Quốc đã chối bỏ trách nhiệm, cho rằng đó là vận đề cánh sát do Lực lượng Giám sát Biển Trung Quốc (CMS) điều khiển. Trong lúc đó, người phát ngôn của chính quyền trung ương [Trung Quốc] lại khẳng định rằng CMS đã tham gia vào “hoạt động thực thi pháp luật bình thường… tại vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” và tiếp tục cam kết “hợp tác với các bên để tìm kiếm một giải pháp cho những tranh chấp liên quan“.

Các nhà phân tích có lòng khoan dung hơn thì lý giải thái độ nói trên của Trung Quốc là vì chính sách của Trung Quốc là không nhất quán. Kể từ hôm 9 tháng 6 đến nay, không có thêm tin tức về các vụ xung đột nào nữa. Giải thích của Trung Quốc về cuộc họp hôm 25 tháng 6 tại Honolulu với đại diện ngoại giao cao cấp của Mỹ và tại Bắc Kinh với một đặc phái viên của Hà Nội đã cố tình ám chỉ là cuộc khủng hoảng đã tạm thời chấm dứt.

Bên Trung Quốc đã cho rằng phía Mỹ đồng ý cuộc tham vấn diễn ra một ngày ở Honolulu, một cuộc trao đổi về các chính sách và mục tiêu hướng tới diễn đàn khu vực từ 22-23 tháng 7, cuộc gặp Thượng đỉnh Đông Á và các cuộc gặp gỡ đa phương khác, là “thân thiện, thẳng thắn và có tính xây dựng”. Trong khi đó, ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện, và ông Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, lại đồng ý “đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam – Trung Quốc’”, theo bản thông cáo báo chí chung.
Bản tin lạc quan từ Honolulu là điều chẳng có gì ngạc nhiên, mặc dù những lời cảnh báo thẳng thừng của Bắc Kinh trước cuộc họp rằng, ngoài vấn đề về tự do hàng hải thì Mỹ nên để mặc các vấn đề liên quan đến biển Đông cho những nước trực tiếp liên quan, nếu Mỹ không muốn “bị bỏng vì lửa”.

Sau những vụ đấu khẩu gay gắt với Trung Quốc hồi năm 2010, trong đó có những lời qua tiếng lại tại diễn đàn khu vực tại Hà Nội thì Washington đã đầu tư rất nhiều công sức để điều chỉnh lại mối quan hệ song phương với Trung Quốc. Chuyến viếng thăm chính thức của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào hồi tháng 1 đã làm tốt hơn cả một sự hòa giải. Những người tham dự tuyên bố rằng các cuộc gặp giữa Hồ Cẩm Đào và Obama đã mở ra một chương mới trong mối quan hệ song phương, và rằng quan hệ xây dựng giữa hai nước là thật cần thiết.

Tại thời điểm đó, báo New York Times đã nhận xét rằng, tham vọng của Trung Quốc ở biển Đông “không hề xuất hiện” trong chương trình nghị sự của Hồ trong chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ. Báo Times kết luận rằng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc “vui mừng để cho vấn đề [biển Đông] lắng xuống, có lẽ vì mục tiêu chính của Trung Quốc là làm dịu mối quan hệ với chính quyền Obama”. Nhưng việc Trung Quốc bắt đầu lên gân cốt ở biển Đông hồi tháng 3 đã khiến cho người ta nghi ngờ những điều được cho là sự hòa dịu Trung – Mỹ được xây dựng dựa trên đó.

Những hành động bao gồm quấy nhiễu ngư dân Việt Nam (giờ đây là chuyện xảy ra thường xuyên theo thời vụ), cắm cọc “không xâm phạm” trên các bãi đá ngầm ở gần Philippines và quấy nhiễu các tàu khảo sát dầu khí. Những hành động gần đây nhất liên quan đến các vụ cố tình cắt cáp hai tàu của một công ty dầu khí quốc gia Việt Nam và một chiếc tàu thứ ba có hợp đồng với một công ty Philippine ở ngay trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (321 km) được Hà Nội và Manila tuyên bố khẳng định chủ quyền, đều chưa từng có tiền lệ.

Ngôn ngữ mềm dẻo, nghị trình cứng rắn

Nhìn kỹ vào bức tranh lớn hơn, các quan chức ở Washington không phải đã từ bỏ những nguyên tắc mạnh mẽ đã được bà Clinton phát biểu tại Diễn đàn Khu vực châu Á hồi năm ngoái, trong đó có việc Mỹ sẵn sàng hỗ trợ các cuộc đàm phán để tìm giải pháp hòa bình cho những tuyên bố chủ quyền trái ngược.

Tuy nhiên một điều dễ thấy là các quan chức Mỹ vẫn giữ giọng kiềm chế khi lên tiếng bình luận. Họ gọi những hành động của Trung Quốc là “gây rắc rối” khi mà hàng chục tính từ mạnh hơn như “quá đáng” hoặc “khiêu khích” mới là phù hợp.

Washington đã từng nhấn mạnh rằng Mỹ “không đứng về phe nào” trong các tranh chấp lãnh thổ. Cái ý “không đứng về phe nào” là tinh ranh, trừ phi Mỹ tiếp tục tin rằng những tuyên bố tranh chấp quốc gia phải được giải quyết theo “thông lệ quốc tế”.

Nói như thế, Washington muốn nói rằng các nguyên tắc xác định ranh giới của một vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải được xác nhận trong UNCLOS, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, có hiệu lực năm 1994 và đã được 161 nước phê chuẩn.

Nếu áp dụng những nguyên tắc của UNCLOS cho vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố là của họ, một dải kéo dài về phía nam cách Đảo Hải Nam khoảng 1000 cây số, dù có tính toán thế nào đi nữa thì Trung Quốc cũng chỉ còn lại có hai phần ba vùng biển gần Quần đảo Hoàng sa ở phía đông bắc và hoàn toàn không có vùng biển Quần đảo Trường Sa ở phía nam.

Các nguyên tắc của UNCLOS cũng không cho phép Trung Quốc sử dụng các đường cơ sở tính từ các đảo nhỏ ở Hoàng Sa để mở rộng vùng đặc quyền kinh tế của họ. Vì thế, Trung Quốc đặt tuyên bố khẳng định chủ quyền của họ trên bằng chứng về sự khai thác trong lịch sử, điều này đang được hậu thuẫn bởi khả năng ngày càng lớn mạnh của hải quân và an ninh biển của họ.

Trong bối cảnh hiện nay, các nhà ngoại giao Mỹ nói gì với giới báo chí thì không quan trọng lắm, nếu như ở hậu trường họ đang bận rộn với việc củng cố nghị lực của ASEAN, đồng thời can ngăn Trung Quốc đừng bị sa vào những cơn bốc đồng tồi tệ nhất.  Trong khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đã đồng ý khởi động lại các cuộc đàm phán về một “thỏa thuận song phương trên những nguyên tắc căn bản, hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề trên biển”, mặc dù Hà Nội thường bày tỏ rằng, họ thích hơn một khung khổ đa phương.

Có một mối liên hệ khá vững chắc giữa giới lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc – giữa hai Đảng, giữa các bộ ngành, giữa các tổ chức quần chúng, giữa các tỉnh vùng biên – và nhiều lãnh đạo của cả hai nước đã bỏ công sức vào việc phát triển mối quan hệ tốt đẹp và ổn định này.

Kể từ đầu năm 2010, hai nước đã có sáu vòng đàm phán ở cấp chuyên gia nhằm làm rõ những lập trường về quyền tài phán biển đối với vùng Quần đảo Hoàng Sa, phần biển thuộc biển Đông mà chỉ riêng Trung Quốc và Việt Nam có tranh chấp chủ quyền. Các cuộc đàm phán này – tới nay dường như thực chất chỉ đạt được kết quả rất ít – đã bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng đang diễn ra hiện nay.  Đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên đang chứng minh một phần giả thuyết cho rằng những sự cố vừa qua cho thấy mục tiêu đích thực của Bắc Kinh đang bị can thiệp bởi một phe cánh những người Trung Quốc yêu nước cuồng tín.

Dù điều này đúng hay sai thì cũng không chắc Bắc Kinh sẽ phủ nhận những sự cố do lực lượng an ninh biển của họ liên tiếp gây ra sau khi sự việc thực tế đã xảy ra rồi. Quả thực là phát ngôn viên của Trung Quốc đã phải cố gắng để mô tả những vụ xung đột gần đây là sự phản ứng chính đáng trước hành động khiêu khích của Việt Nam hoặc Philippines. Như vậy là Trung Quốc trên thực tế đã hướng tới một học thuyết can thiệp để đảm bảo độc quyền khai thác tài nguyên trên biển Đông, ở bất cứ nơi nào nằm trong phạm vi “đường chín đoạn đứt khúc” nổi tiếng, bao quanh vùng biển Đông.

Vậy thì điều gì có thể làm được để đưa những tuyên bố chủ quyền rắc rối trở lại con đường đi đến cách giải quyết công bằng dựa trên luật pháp quốc tế? Điều này phụ thuộc vào việc Indonesia phải điều khiển Diễn đàn Khu vực châu Á sắp diễn ra và cuộc gặp Thượng đỉnh Đông Á, để đem lại kết quả thực tế, nếu không thể tiến tới sự đồng thuận để chứng minh được là ASEAN vẫn còn có hiệu lực đối với những vấn đề tranh chấp [trên biển Đông]. Sau tháng 11 thì chức chủ tịch ASEAN sẽ được chuyển sang Campuchia, rồi sau đó là Myanmar, rồi sau đó là Lào, và những nước này đều được coi là những nước  lệ thuộc vào Trung Quốc về viện trợ kinh tế nên chưa chắc họ sẽ chịu đựng được sức ép của Bắc Kinh.

Mới đây một bài xã luận trên báo Jakarta Post đã đề xuất một phương hướng mới. Bài báo này cho rằng sau mười năm ì ạch để tìm ra một mẫu số chung đồng thuận gồm có Trung Quốc thì nay các nước thành viên ASEAN trước hết nên đi đến một cương lĩnh chung về một bộ nguyên tắc ứng xử và bằng cách đó sẽ gây sức ép, khuyên Trung Quốc có lập trường phù hợp với trách nhiệm của một cường quốc địa phương.

Chừng nào các nước thành viên ASEAN không thể có sự đồng thuận, chừng đó Trung Quốc vẫn bị sự cám dỗ buộc các nước đối thủ tranh chấp với họ nhượng lại từng nước một. Một khi Philippines và Việt Nam bị buộc phải vâng lời, theo cách chia để trị, khi ấy Trung Quốc sẽ dễ dàng ép buộc Malaysia và Brunei. Ngược lại, nếu bốn nước ASEAN có tranh chấp có thể tự giải quyết các đòi hỏi về quyền sở hữu, khi ấy những nước này sẽ ở trong vị thế đàm phán mạnh hơn nhiều trước yêu cầu của Trung Quốc.

Do đó, ngoại trừ một số thành viên ASEAN không ưa gây xích mít với Trung Quốc, sự phân chia công bằng cái phần của biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa rộng lớn rất có thể không quá khó khăn. Cho tới nay. tất cả bốn nước ASEAN có tranh chấp đều cho thấy họ sẵn sàng áp dụng các nguyên tắc UNCLOS; còn Trung Quốc thì vẫn đang tiếp tục phản đối.

David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu. Ông thường viết về những vấn đề thời sự Việt Nam. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ email: nworbd@gmail.com.

Hiệu đính bản tiếng Việt: David Brown

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Bài phân tích Ba Sàm | Leave a Comment »